Bệnh vảy nến – Nguyên nhân, dấu hiệu, chẩn đoán và điều trị

Bệnh vảy nến là bệnh ngoài da phổ biến và có xu hướng tái phát thường xuyên. Các dấu hiệu bệnh có thể xuất hiện cục bộ theo từng mảng nhỏ hoặc ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Các chấn thương da vật lý có thể khiến bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

Bệnh vảy nến
Bệnh vảy nến là bệnh ngoài da phổ biến có liên quan đến di truyền và rối loạn hệ thống miễn dịch

Bệnh vảy nến là gì?

Vẩy nến (Psoriasis) là bệnh tự miễn mãn tính dẫn đến việc hình thành các mảng da bất thường. Ở các nước Âu – Mỹ, tỷ lệ vảy nến khoảng 1 – 2% dân số. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 5 – 7% tình trạng bệnh da liễu có liên quan đến vảy nến.

Bệnh vảy nến thường xảy ra khi quá trình sản xuất da diễn ra nhanh hơn bình thường. Thông thường, các tế bào da phát triển sâu bên dưới da và từ từ thay thế các tế bào da chết. Da chết sẽ bong ra và được loại bỏ khỏi cơ thể. Vòng đời điển hình của một tế bào da là một tháng.

Ở những người bệnh vảy nến, vòng đời da thường diễn ra trong vài ngày. Do đó, các tế bào da chết không có thời gian để rơi ra bên ngoài cơ thể. Sản xuất da quá nhanh dẫn đến tích tụ các tế bào da, khiến da dày, khô và sần sùi.

Đặc trưng của bệnh vảy nến là tích tụ nhanh chóng các mảng tế bào da chết. Các mảng da này thường có màu đỏ (hoặc tím ở những người có làn da sạm màu), khô, ngứa và có vảy. Vảy da bệnh vảy nến thường có màu trắng bạc, đôi khi có thể nứt nẻ gây chảy máu và đau đớn.

Vảy nến thường ảnh hưởng đến các khớp như khuỷu tay và đầu gối. Tuy nhiên, các dấu hiệu bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể, bao gồm tay, chân, cổ, da đầu và khuôn mặt. Ngoài ra, các loại vảy nến ít phổ biến hơn các khu vực móng tay, miệng và xung quanh bộ phận sinh dục.

Các loại bệnh vảy nến phổ biến

Một số loại vảy nến phổ biến bao gồm vảy nến thể chấm giọt, vảy nến thể mảng, vảy nến thể đồng tiền, vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến thể viêm khớp, vảy nến đảo ngược và vảy nến trẻ em.

1. Vẩy nến thể chấm giọt

Bệnh vảy nến thể chấm giọt đặc trưng bởi các chấm có đường kính từ 1 – 2 milimet, màu đỏ tươi, bên trên có phủ một lớp vảy mỏng màu trắng đục. Các chấm này xuất hiện rải rác toàn thân, đặc biệt là phần thân trên, dễ bong vảy, khi cạo vụn ra như bụi phấn.

Thể vảy nến này thường phổ biến ở trẻ em, thanh thiếu niên và những người trẻ tuổi. Bệnh thường xuất hiện một cách đột ngột và có liên quan đến các bệnh viêm Amidan liên cầu khuẩn, viêm tai giữa, thường xuyên sử dụng thuốc kháng sinh.

Trong một số trường hợp, vảy nến thể chấm giọt có thể bị chẩn đoán nhầm thành bệnh á vảy nến thể giọt (một dạng tổn thương da gây bong vảy tương tự như vảy nến) và bệnh giang mai phát ban dạng vảy nến.

Vảy nến thể chấm giọt
Vảy nến thể chấm giọt thường phổ biến ở trẻ em

2. Vảy nến thể mảng

Bệnh vảy nến thể mảng là dạng vảy nến phổ biến nhất, theo ước tính có thể gây ảnh hưởng đến 90% người bệnh. Đây là một dạng bệnh mãn tính đã phát triển trong vài năm và có tính chất dai dẳng, khó điều trị.

Các mảng bám của vảy nến thể mảng thường có kích thước lớn, đường kính khoảng 5 – 10 cm hoặc hơn. Bệnh có xu hướng khu trú ở khu vực da bị tì đè như lưng, ngực, khuỷu tay, đầu gối, phần trước của cẳng chân và xương cùng. Các mảng da đỏ cũng có giới hạn rõ ràng, nổi cộm và rất dễ phân biệt là vùng da xung quanh.

Vảy nến thể mảng
Vảy nến thể mảng chiếm khoảng 90% các trường hợp bệnh

3. Vảy nến thể đồng tiền

Vảy nến thể đồng tiền là dạng bệnh vảy nến điển hình và phổ biến. Thể này dẫn đến các đốm da tổn thương các hình tròn như đồng tiền với đường kính từ 1 – 4 cm.

Bệnh vảy nến thể đồng tiền có thể phát triển thành vài chục đám hoặc nhiều hơn, rải rác khắp cơ thể. Ngoài ra bệnh thường có xu hướng phát triển thành mạn tính, dai dẳng và khó điều trị.

Vảy nến thể đồng tiền
Vảy nến thể đồng tiền dẫn đến các mảng da tổn thương hình đồng tiền

4. Vảy nến đỏ da toàn thân

Vảy nến đỏ da toàn thân là một thể bệnh vảy nến nghiêm trọng, hiếm khi gặp, chiếm khoảng 1% các trường hợp bệnh. Đặc điểm của thể vảy nến này bao gồm khiến da toàn thân chuyển thành màu đỏ tươi, căng bóng, phù nề, nổi cộm, rớm dịch và có thể phủ một lớp vảy mỡ ẩm ướt.

Ngoài ra, tình trạng này khiến toàn thân không có vùng da lành lặn, ngứa dữ dội và các nếp gấp da có thể bị lở loét, nứt nẻ, rò rỉ dịch mủ và đau đớn nghiêm trọng.

Vảy nến thể đỏ da toàn thân
Vảy nến thể đỏ da toàn thân là một dạng hiếm gặp và nghiêm trọng

Các triệu chứng liên quan khác bao gồm:

  • Sốt cao
  • Rét run
  • Rối loạn tiêu hóa
  • Suy nhược cơ thể

Thể bệnh vảy nến này thường phát triển từ vảy nến thể giọt. Ngoài ra, vảy nến không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách cũng có thể dẫn đến thể đỏ da toàn thân.Trong các trường hợp nghiêm trọng, vảy nến thể đỏ da toàn thân có thể dẫn đến tử vong do một bệnh nhiễm khuẩn nào đó.

5. Vảy nến thể viêm khớp

Vảy nến thể viêm khớp hay còn được gọi là viêm khớp vảy nến, thấp khớp vảy nến, vảy nến thể khớp. Đây là một thể vảy nến ít khi gặp và có thể dẫn đến các tổn thương khớp và da nghiêm trọng.

Hầu hết các trường hợp, vảy nến gây tổn thương da nghiêm trọng, lan rộng khắp cơ thể sau đó gây ảnh hưởng đến các khớp xương. Các tổn thương khớp phổ biến thường có triệu chứng như viêm đa khớp mạn tính, gây thấp khớp hoặc biến dạng khớp.

Vảy nến thể viêm khớp khiến các khớp sưng đau, dần dần dẫn đến biến dạng, hạn chế cử động. Một số ngón tay và ngón chân có thể bị bắt chéo, sau nhiều năm có thể gây tàn phế. Ngoài ra, trong một số trường hợp người bệnh có thể bị suy nhược cơ thể, gây tử vong do một số biến chứng có liên quan đến nội tạng.

Vẩy nến thể viêm khớp
Vẩy nến thể viêm khớp có thể gây biến dạng các khớp và dẫn đến tàn phế

6. Vảy nến thể đảo ngược

Thể bệnh vảy nến này thường xuất hiện ở khu vực nếp gấp da như nách, khu vực dưới ngực, rốn, kẽ mông và bẹn. Đặc trưng cơ bản của bệnh là hình thành các mảng da đỏ, giới hạn rõ ràng và có thể lan rộng ra các khu vực lân cận.

Tổn thương da do bệnh vảy nến thể đảo ngược có thể gây bong tróc da, xuất hiện vết nứt, khiến da ẩm. Điều này khiến bệnh thường bị chẩn đoán nhầm thành tình trạng hăm kẽ do liên cầu khuẩn hoặc nhiễm nấm Candida.

Vảy nến thể đảo ngược
Vảy nến thể đảo ngược thường phổ biến ở các nếp gấp cơ thể

7. Vảy nến thể mủ

Vảy nến thể mủ là một dạng bệnh hiếm gặp và nghiêm trọng. Tình trạng này được phân thành hai loại phổ biến bao gồm:

  • Vảy nến thể mủ lòng bàn tay và bàn chân: Các biểu hiện phổ biến bao gồm xuất hiện mụn mủ nổi ở giữa vùng da dày sừng ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Mụn mủ có thể phát triển thành nhiều đợt, tái phát dai dẳng và thường xuất hiện ở ngón tay và ngón út. Các dấu hiệu kèm theo bao gồm sốt cao, phù nề các chi, nổi hạch ở bẹn và có thể lan rộng ra toàn thân.
  • Vảy nến thể mủ toàn thân: Thường xuất hiện như một biến chứng của vảy nến thể đỏ da hoặc viêm khớp vảy nến, chiếm khoảng 20 – 40% các trường hợp. Triệu chứng lâm sàng bao gồm gây sốt cao đột ngột, mệt mỏi, xuất hiện các vùng da đỏ, nổi nhiều mụn mủ với đường kính khoảng 1 – 2 mm. Ở giai đoạn sau, người bệnh có thể bị rụng tóc, tổn thương móng, khi xét nghiệm máu có thể phát hiện nồng độ bạch cầu đa nhân trung tính cao và máu lắng tăng cao.
Vảy nến thể mủ
Vảy nến thể mủ có thể ảnh hưởng đến lòng bàn tay, bàn chân hoặc toàn thân

8. Vảy nến trẻ em

Bệnh vảy nến trẻ em thường phát triển ở trẻ mới lớn và trẻ ở tuổi dậy thì. Bệnh có xu hướng xuất hiện sau khi tiêm chủng hoặc sau khi nhiễm các bệnh viêm đường hô hấp trên.

Đặc trưng của bệnh thường xuất hiện đột ngột, có thể chấm giọt hoặc hình thành một lớp vảy mỏng rải rác khắp cơ thể. Vảy nến trẻ em được điều trị bằng thuốc kháng sinh và có tiên lượng tương đối tốt.

Bệnh vảy nến trẻ em
Bệnh vảy nến trẻ em được điều trị bằng kháng sinh

Dấu hiệu nhận biết bệnh vảy nến

Triệu chứng và dấu hiệu nhận biết bệnh vảy nến không giống nhau ở các đối tượng bệnh và phụ thuộc vào thể của bệnh.

Bệnh vảy nến thường biểu hiện với các mảng da tổn thương phân bố đối xứng, màu đỏ, có vảy với các đường ranh giới rõ rành với vùng da lành lặn xung quanh. Vùng da bệnh thường có màu trắng bạc, ngoại trừ khu vực các nếp gấp da bệnh thường gây ra các mảng bám ẩm ướt.

Ngoài ra, một số dấu hiệu phổ biến khác của bệnh vảy nến thường bao gồm:

  • Xuất hiện các mảng da đỏ, viêm, nổi cộm
  • Da xuất hiện các vảy trắng hoặc các mảng bám màu đỏ
  • Da khô, nứt nẻ và có thể gây chảy máu, đau đớn
  • Đau nhức ở khu vực xung quanh vùng da bệnh
  • Ngứa hoặc cảm thấy nóng rát xung quanh các mảng da vảy nến
  • Móng tay dày hoặc xuất hiện rỗ loang lổ
  • Đau và sưng các khớp

Không phải tất cả người bệnh đều trải qua các triệu chứng này. Một số người có thể xuất hiện các triệu chứng hoàn toàn khác nếu mặc các thể bệnh vảy nến hiếm gặp.

Hầu hết tình trạng vảy nến đều xuất hiện theo chu kỳ. Tình trạng này có thể dẫn đến các triệu chứng nghiêm trọng trong vài ngày hoặc vài tuần, sau đó các triệu chứng có thể tự cải thiện và không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh. Trong một vài tuần sau đó, các dấu hiệu bệnh có thể tái phát hoặc trở nên nghiêm trọng nếu bị tác động hoặc gặp điều kiện thích hợp.

Trong một số trường hợp, các triệu chứng vảy nến có thể biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bệnh sẽ không tái phát trong tương lai.

Nguyên nhân gây bệnh vảy nến

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh vảy nến bao gồm di truyền, rối loạn da do gen hoặc tác động bởi một số yếu tố như Stress, nhiễm khuẩn, chấn thương cơ học vật lý hoặc rối loạn hệ thống miễn dịch.

1. Rối loạn hệ thống miễn dịch

Vảy nến là bệnh tự miễn. Bệnh xảy ra khi các tế bào bạch cầu (còn được gọi là tế bào T) tấn công vào các tế bào da.

Trong các trường hợp bình thường, tế bào bạch cầu thường tấn công và tiêu diệt vi khuẩn để chống lại nhiễm trùng. Do đó, khi hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào da sẽ gây sản xuất tế bào da quá mức. Tình trạng này dẫn đến việc da phát triển quá nhanh, bị đẩy lên trên bề mặt da, khiến tế bào da chồng chất lên nhau và gây ra bệnh vảy nến.

Nguyên nhân này thường dẫn đến bệnh vảy nến thể mảng bám. Đặc trưng cơ bản bao gồm khiến da bị viêm, đỏ và có thể nứt nẻ, chảy máu.

triệu chứng bệnh vảy nến
Rối loạn hệ thống miễn dịch có thể gây ra bệnh vẩy nến

2. Gen và di truyền

Theo một số nghiên cứu, một số người có thể thừa hưởng các gen di truyền gây bệnh vảy nến. Do đó, nếu trong gia đình có tiền sử mắc các bệnh về da thì nguy cơ mắc bệnh vảy nến thường cao hơn, tỷ lệ khoảng 12.7 – 29.8% các trường hợp.

Bên cạnh đó, gen gây bệnh vảy nến nằm trên nhiễm sắc thể số 6 và có liên quan đến DR7, B17, BW57, CW6, HLA. Các gen này có thể gây khởi phát bệnh vảy nến rất sớm và thường là bệnh vảy nến thể giọt.

3. Các nguyên nhân khác

Ngoại trừ rối loạn hệ thống miễn dịch, di truyền và gen, bệnh vảy nến có thể liên quan đến một số nguyên nhân như:

  • Căng thẳng thần kinh: Có thể khiến bệnh vảy nến bùng phát hoặc khiến các dấu hiệu bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.
  • Nhiễm khuẩn: Các ổ nhiễm khuẩn khu trú có thể liên quan đến việc phát sinh và hình thành bệnh vảy nến. Các bệnh nhiễm khuẩn phổ biến thường liên quan đến bệnh vảy nến thường bao gồm viêm mũi, viêm họng, viêm Amidan và thường có liên quan đến liên cầu khuẩn.
  • Chấn thương cơ học vật lý: Có thể chiếm 14% các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh viêm nến.
  • Rối loạn nội tiết tố: Có thể gây ra các triệu chứng bệnh vảy nến khi mang thai. Tuy nhiên, các triệu chứng có xu hướng trở nên nghiêm trọng hơn và có xu hướng tái phát sau khi sinh.
  • Rối loạn chuyển hóa da: Chỉ số sử dụng oxy trên da ở người bệnh vảy nến thường cao rõ rệt, có thể lên đến 400% so với da thông thường. Điều này có thể gây sản sinh tế bào ở tầng đáy tăng lên 8 lần và dẫn đến việc tăng sinh tế bào thượng bì, tạo sừng trên da. Một chu kỳ chuyển hóa da bình thường mất khoảng 20 – 27 ngày, tuy nhiên ở bệnh nhân vảy nến chu kỳ chỉ mất khoảng 2 – 4 ngày.

Chẩn đoán bệnh vảy nến

Chẩn đoán bệnh vảy nến thường được dựa trên sự thay đổi của da và đặc trưng của bệnh. Đặc điểm cơ bản của vảy nến thường là hình thành vảy, mảng da đỏ, nổi sẩn hoặc gây đau và ngứa.

Ngoài ra, bác sĩ có thể đề nghị sinh thiết khi cần thiết.

điều trị vảy nến bằng uvb
Vảy nến thường được chẩn đoán thông qua các dấu hiệu ngoài da

1. Kiểm tra các dấu hiệu

Hầu hết các trường hợp vảy nến có thể được chẩn đoán thông qua các dấu hiệu phổ biến. Các triệu chứng vảy nến thường rõ ràng và dễ phân biệt so với các điều kiện tương tự.

Trong xét nghiệm này, hãy đảm bảo thông báo cho bác sĩ về tình trạng da, lịch sử y tế hoặc bệnh án gia đình. Các thông tin này có thể hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả.

2. Sinh thiết da

Nếu các triệu chứng vảy nến không rõ ràng hoặc nếu nghi ngờ các bệnh lý nghiêm trọng hơn, bác sĩ có thể lấy một mẫu da nhỏ và kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Thử nghiệm này được gọi là sinh thiết da.

Sinh thiết da có thể chẩn đoán thể bệnh vảy nến cũng như các rối loạn da và nhiễm trùng khác.

Biện pháp điều trị bệnh vảy nến

Hiện tại không có thuốc hoặc phương pháp điều trị dứt điểm bệnh vảy nến. Tuy nhiên, người bệnh có thể sử dụng nhiều loại thuốc và phương pháp nhằm cải thiện các triệu chứng lâm sàng hoặc ngăn ngừa bệnh tái phát.

Tùy thuộc vào loại vảy nến và mức độ nghiêm trọng của bệnh, bác sĩ có thể chỉ định các loại thuốc và phương pháp điều trị như:

1. Điều trị vảy nến tại chỗ bằng các loại thuốc bôi

– Thuốc bạt sừng và bong vảy:

Thuốc mỡ Salicylic (2%, 3%, 5%) có tác dụng chống lại hiện tượng á sừng và cải thiện tình trạng bong tróc da. Tuy nhiên, thuốc không có tác dụng điều trị đối với tình trạng viêm thâm nhiễm với nền da cứng.

– Goudron:

Goudron là một loại thuốc khử oxy bao gồm hai loại chính là Goudron có chiết xuất từ than đá và Goudron có nguồn gốc từ chưng cất các loại cây có nhựa (như gỗ thông).

Goudron là loại thuốc có màu nâu sẫm hoặc đen, mùi hắc ín, hơi nhớt, có tính axit và có khả năng hòa tan trong dung môi hữu cơ, ít tan trong nước. Thuốc được sử dụng để điều trị vảy nến, viêm da cơ địa và một số loại bệnh chàm.

Goudron có tác dụng điều trị vảy nến tương đối tốt. Khi bôi vào có thể làm tan vảy, cải thiện vùng da dày sừng và hỗ trợ làm lành các tổn thương da. Tuy nhiên, thuốc có mùi hắc, dễ gây bẩn quần áo và sử dụng lâu ngày có thể làm tăng nguy cơ viêm nang lông.

– Anthralin:

Anthralin là một loại thuốc khử oxy được chỉ định điều trị vảy nến trong thời gian ngắn. Sử dụng lâu dài có thể gây kích thích da gây đỏ ửng hoặc ngứa.

Trong 2 tuần đầu tiên, bôi Anthralin bồng độ 0.1 – 0.3% trong 10 – 20 phút sau đó rửa thuốc đi. Trong các tuần tiếp theo sử dụng duy trì 2 lần mỗi tuần để ngăn ngừa bệnh tái phát.

thuốc điều trị bệnh vảy nến
Các loại thuốc bôi có thể cải thiện tình trạng đóng vảy và hạn chế tổn thương da

– Thuốc mỡ Corticoid:

Thuốc có thể cải thiện các triệu chứng bệnh vảy nến một cách nhanh chóng và hiệu quả cao. Tuy nhiên, sử dụng lâu dài hoặc trên diện rộng có thể gây nổi mề đay mẩn ngứa, teo da, giãn tĩnh mạch, rạn da hoặc nổi mụn trứng cá.

Thuốc mỡ Corticoid được chỉ định theo từng đợt (khoảng 20 – 30 ngày), sau đó nghỉ một thời gian. Nếu cần thiết người bệnh có thể bôi thuốc duy trì theo chỉ định để hạn chế tái phát bệnh vảy nến.

– Thuốc mỡ Daivonex:

Thuốc có thể kích thích quá trình biệt hóa tế bào sừng, tác động vào tế bào lympho T và hỗ trợ ức chế các gen dẫn đến bệnh vảy nến. Daivonex thường được chỉ định bôi 2 lần mỗi ngày, liên tục trong 1 – 2 tuần cho trường hợp vảy nến khu trú.

Chỉ bôi dưới 100g thuốc mỗi tuần, tương đương với 16% diện tích cơ thể. Không được bôi thuốc vào vùng mặt và cần vệ sinh tay sau khi thoa thuốc để tránh tình trạng tồn đọng canxi gây thâm da tại khu vực tiếp xúc.

Bên cạnh đó, thuốc mỡ Daivonex có giá thành tương đối cao.

2. Điều trị vảy nến toàn thân

Đối với trường hợp bệnh vảy nến trung bình đến nghiêm trọng hoặc không đáp ứng các loại thuốc bôi, bác sĩ có thể chỉ định thuốc đường uống hoặc tiêm. Nhiều loại thuốc có thể dẫn đến các tác dụng phụ nghiêm trọng, do đó thường được kê trong một thời gian ngắn.

– Quang hoá trị liệu:

Quang trị liệu là phương pháp điều trị vảy nến toàn thân phổ biến ở nước ta hiện nay. Để tiến hành quang trị liệu, bác sĩ sẽ yêu cầu người bệnh thực hiện các bước sau:

  • Uống thuốc cảm ứng ánh sáng quang trị liệu Psoralen
  • Sau 2 giờ tiến hành chiếu tia cực tím sóng A (UVA) với bước sóng khoảng 320 – 400 nm.

Tác dụng chính của liệu pháp quang hóa trị liệu là giảm số lượng và hoạt động của tế bào lympho T, ức chế tổng hợp ADN của tế bào lympho, giảm các yếu tố nguy cơ gây sừng hóa và bong tróc da.

Quang hoá trị liệu tương đối an toàn, dễ thực hiện, ít độc hại những cần thực hiện nhiều lần vào vài tháng để đạt hiệu quả tốt nhất. Sau một liệu trình bệnh có thể thuyên giảm 70 – 95%.

Tác dụng phụ phổ biến bao gồm buồn nôn, đỏ da, ngứa, nổi mụn nước.

– Retinoid:

Retinoid là một dẫn xuất của vitamin A có tác dụng điều trị vảy nến và ít độc hại hơn vitamin A. Thuốc có đặc tính biệt hóa tế bào, tác động trực tiếp lên các gen của chất Keratin, làm chậm quá trình sản xuất biểu bì da và bình thường hóa quy trình tái tạo da.

Thuốc thường được chỉ định cho các trường hợp như:

  • Vảy nến trên diện rộng
  • Vảy nến thể viêm khớp
  • Vảy nến thể đỏ da toàn thân
  • Vảy nến thể mủ

– Methotrexate:

Methotrexate là một dạng thuốc ức chế hệ thống miễn dịch có tác dụng ức chế tăng sinh tế bào ở bệnh nhân vảy nến.

Tác dụng phụ phổ biến bao gồm ảnh hưởng đến chức năng gan và hệ thống tuần hoàn máu. Do đó, Methotrexate chỉ được chỉ định cho trường hợp vảy nến toàn thân (hơn 50% diện tích cơ thể) và chủ yếu được chỉ định cho người trên 50 tuổi khỏe mạnh.

nguyên nhân bệnh vảy nến
Trong các trường hợp nghiêm trọng, bác sĩ có thể chỉ định thuốc điều trị vảy nến dạng tiêm hoặc uống

– Cyclosporin A:

Cyclosporin A là một dạng Polypeptid vòng gồm 11 loại axit amin. Thuốc có thể ức chế miễn dịch chọn lọc thường được chỉ định sử dụng ở người ghép tạng để hạn chế biến chứng và cũng được sử dụng để điều trị bệnh vảy nến.

Thuốc thường được chỉ định cho các trường hợp sau:

  • Vảy nến nghiêm trọng đã điều trị bằng các phương pháp khác nhưng không mang lại hiệu quả.
  • Vảy nến thể mủ.
  • Vảy nến thể khớp.

Ngoài da, những người bệnh ác tính (như ung thư), cao huyết áp không kiểm soát, đang thực hiện hóa trị, xạ trị và bệnh nhân chức năng lọc thận không bình thường không được sử dụng thuốc.

3. Một số loại thuốc khác

Một số loại thuốc khác có thể được chỉ định điều trị bệnh vảy nến bao gồm:

  • Thuốc an thần tác dụng lên hệ thống thần kinh trung ương
  • Vitamin A, C, B12, Biotin và vitamin H3
  • Các loại thuốc điều trị viêm da cơ địa, mề đay mẩn ngứa, chống dị ứng, hạn chế mẫn cảm như thuốc kháng Histamine tổng hợp

Chế độ ăn uống khuyến cáo dành cho người bệnh vảy nến

Chế độ ăn uống phù hợp có thể hỗ trợ cải thiện các triệu chứng vảy nến hoặc khiến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn. Tham khảo một số lời khuyên cải thiện các triệu chứng bệnh vảy nến bao gồm:

1. Duy trì cân nặng khỏe mạnh

Nếu thừa cân, người bệnh nên giảm cân và duy trì cân nặng khoa học để tránh làm tình trạng bệnh vảy nến trở nên nghiêm trọng hơn.

Các bác sĩ không biết mối liên quan cụ thể giữ cân nặng và bệnh vảy nến. Tuy nhiên, nhiều báo cáo cho thấy các triệu chứng vảy nến thường tỷ lệ thuận với cân nặng của người bệnh.

Ngoài ra, giữ cân nặng khỏe mạnh cũng ngăn ngừa nhiều bệnh lý khác bao gồm cao huyết áp hoặc các bệnh về xương khớp.

thuốc chữa bệnh vẩy nến mới nhất của thế giới
Giảm cân có thể hỗ trợ cải thiện bệnh vảy nến

2. Áp dụng chế độ ăn uống tốt cho tim mạch

Giảm tiêu thụ các chất béo bão hòa có thể tăng cường sức khỏe tim mạch và hỗ trợ cải thiện các triệu chứng vảy nến.

Hạn chế tiêu thụ các sản phẩm thịt động vật và sữa. Ngoài ra, tăng cường lượng protein có chứa axit béo omega 3 trong cá hồi, cá mòi, tôm, quả óc chó, hạt lanh và đậu nành.

3. Tránh sử dụng các loại thực phẩm kích thích bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến gây viêm và tổn thương da. Do đó, người bệnh nên tránh các loại thực phẩm gây viêm để cải thiện các triệu chứng.

Các loại thực phẩm gây viêm phổ biến bao gồm:

  • Thịt đỏ
  • Đường tinh luyện
  • Thực phẩm chế biến sẵn
  • Sữa và các sản phẩm sữa

4. Hạn chế tiêu thụ rượu

Uống rượu có thể tăng nguy cơ bùng phát bệnh vảy nến. Do đó hạn chế hoặc ngừng tiêu thụ rượu để cải thiện các triệu chứng và ngăn ngừa bệnh vảy nến tái phát.

Nếu người bệnh gặp khó khăn trong việc bỏ rượu, hãy liên hệ với bác sĩ chuyên môn để được hỗ trợ.

cách chữa bệnh vảy nến tại nhà
Ngừng hoặc hạn chế tiêu thụ rượu có thể hỗ trợ cải thiện bệnh vảy nến

5. Bổ sung vitamin

Bác sĩ có thể đề nghị người bệnh bổ sung vitamin ở dạng thực phẩm hoặc viên uống bổ sung.

Trong một số trường hợp, bổ sung đầy đủ vitamin và khoáng chất cần thiết có thể cải thiện hệ thống miễn dịch và tăng khả năng điều trị bệnh vảy nến.

Bệnh vảy nến là bệnh lý mãn tính có liên quan đến hệ thống miễn dịch và có tính di truyền. Hiện tại không có cách điều trị cũng như phòng ngừa bệnh. Tuy nhiên, bệnh có thể được kiểm soát và hạn chế nguy cơ tái phát bằng nhiều phương pháp khác nhau. Điều trị theo phác đồ của bác sĩ và thay đổi phong cách sống lành mạnh có thể hỗ trợ cải thiện các triệu chứng bệnh vảy nến.

Bác sĩ Trần Hải Long tốt nghiệp Học Viện Y Dược Học Cổ Truyền Việt Nam. Với chuyên môn bác sĩ khám và chữa bệnh, vật lý trị liệu như: châm cứu, bấm huyệt, thuỷ châm... Hiện nay bác sĩ Trần Hải Long đang là tác giả của các bài viết về sức khoẻ trên trang vhea.org.vn, bác sĩ hiện cũng đang công tác tại viện nghiên cứu y học cổ truyền dân tộc, đồng thời cũng là cố vấn chuyên môn tập đoàn y dược Việt Nam.

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *