Thứ 4, 20/10/2008
Tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế khu vực đô thị  (03/03/2010)
Trạm y tế xã, phường có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của y tế cơ sở, giúp cho hệ thống y tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong các thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, sự thay đổi về kinh tế - xã hội ở khu vực đô thị, đời sống của người dân tăng nhanh, có nhu cầu ngày càng cao về dịch vụ y tế. Nét nổi bật là xu hướng là lựa chọn chất lượng dịch vụ cao, bệnh viện tuyến trên. Điều này cần có một nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế phường, nhằm phục vụ cho công tác xây dựng chính sách về tổ chức, hoạt động của các trạm y tế phường tại các khu vực đô thị lớn.

Nghiên cứu này được thực hiện ở bốn thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, mỗi thành phố chọn hai quận và mỗi quận chọn hai phường

Địa bàn nghiên cứu là những thành phố lớn, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của c nước. Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế, chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số, nhưng chiếm tới 20,2% tổng thu nhập quốc dân. Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi bình quân chung là 13,4 triệu. Đà Nẵng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm. 

Đặc điểm công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân  - Về nhân lực y tế, so với toàn quốc thì nhân lực y tế của 4 thành phố có tỷ lệ cao hơn, thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới trên 10% số cán bộ y tế của cả nước. Tỷ lệ bác sỹ/100.000 dân của thành phố Hồ Chí Minh là 65, Hà Nội là 44,5, Đà Nẵng là 59,5, Cần Thơ là 50,7, trong khi tỷ lệ chung là [PTT1] 47 -  Các thành phố nghiên cứu có các trạm y tế phường đạt Chuẩn y tế Quốc gia cao hơn tỷ lệ chung toàn quốc, cao nhất là Đà Nẵng  80,36%, tiếp theo là Hà Nội 68,42% (toàn quốc là 50,47%). - Tỷ lệ các phường có bác sỹ ở Hà Nội là 84,5%, thành phố Hồ Chí Minh là 83,54%, Đà Nẵng là 73,21%, cao hơn khá nhiều với tỷ lệ chung toàn quốc là 67,38%, tỷ lệ phường có y sỹ sản nhi, hoặc nữ hộ sinh đều đạt trên 90%, riêng Đà Nẵng đạt 100%, tỷ lệ thôn ấp có nhân viên y tế cao nhất là Cần Thơ 95,54%, Đà Nẵng thấp nhất là 15,94%, trong khi tỷ lệ chung toàn quốc là 75,28% 

- Địa bàn nghiên cứu ở 8 quận của 4 thành phố, bên cạnh trạm y tế phường có rất nhiều các cơ sở khám chữa bệnh lớn của nhà nước và nhiều cơ sở của tư nhân. Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tình tình người dân tiếp cận với dịch vụ y tế  phường.

Ví dụ ở Quận Bình Thạnh có bệnh viện nhân dân Gia Đnh và Bệnh viện Ung Bướu 2.200 giường,  871 cơ sở y tế tư nhân,  1 bệnh viên tư nhân (Columbia)  18 giường, 10 phòng khám đa khoa tư nhân, 430 phòng khám nhỏ, 18-20 cơ sở dịch vụ y tế, 30 cơ sở trồng răng, 250 nhà thuốc tây,  65 là nhà thuốc của công ty cổ phần dược Gia Định,  60 phòng khám đông y,  30 nhà thuốc y học cổ truyền. 

- Một số đặc điểm của 16 trạm y tế phường thuộc 8 quận của 4 thành phố nghiên cứu :

Về nhân lực, ở 16 trạm y tế phường ở 4 thành phố, trung bình mỗi trạm có 6,75 cán bộ,  trạm ít nhất có 5, trạm nhiều nhất có 12. Trong đó số trạm có bác sỹ 14/16, có y sỹ 16/16, có nữ hộ sinh trung học 16/16, có y tá 15/16. Đánh giá chung có 2 trạm đủ cán bộ, 7 trạm tạm đủ, 7 trạm thiếu.

Về trang thiết bị y tế, phần lớn các trạm y tế phường được trang bị theo danh mục chuẩn Quốc gia về y tế xã, phường; ở 16 trạm thì 4 trạm đủ trang thiết bị, 11 trạm tạm đủ, 3 trạm thiếu.

Về diện tích nhà trạm, có 3 trạm chật hẹp, 7 trạm đủ hoạt động, 6 trạm rộng rãi.

Về kinh phí,  có 5 trạm có nguồn kinh phí đủ hoạt động, 11 trạm thiếu thốn.      

Về tình hình thực hiện  nhiệm vụ:[1]

1- Công tác khám chữa bệnh.

Mỗi thành phố có những đặc điểm riêng, nhưng ở đâu cũng coi đây là một nhiệm vụ rất cần thiết của các trạm y tế. Số liệu thăm dò người dân tại cộng đồng thì 51,4% cho rằng đây là nhiệm vụ rất cần thiết, 45,7% cho là cần thiết.

Công tác khám chữa bệnh chủ yếu cho 3 đối tượng: người có thẻ bảo hiểm y tế, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng khám dịch vụ. Các bệnh nhân đến các trạm y tế phường thường là những bệnh nhân mắc các bệnh huyết áp cao, tiểu đường, hô hấp, các chấn thương nhẹ, bệnh đường tiêu hoá,...

Theo những số liệu điều tra ở 16 trạm y tế phường ở 4 thành phố trên, tình hình chung là số lượng không nhiều. Trung bình một năm ở một trạm là 10.600 lượt/ người, trạm ít nhất là 2.012 lượt/người, trạm nhiều nhất là 27.200 lượt/người; trung bình một ngày ở 1 trạm là 29 lượt/người, trạm ít nhất 6 lượt/người, trạm nhiều nhất trên 70 lượt/người. Trong đó khám cho đối tượng có bảo hiểm y tế trung bình một năm/một trạm là 2.450 lượt/người, chiếm khoảng 24%. Phỏng vấn 139 ngư­ời dân đã sử dụng dịch vụ y tế  thì 60,43% lựa chọn khám ở trạm y tế ph­ường, 23,02% lựa chọn bệnh viện công,  7,91% lựa chọn cơ sở y tế tư­ nhân,  8,63 % mua thuốc tự chữa.

Như vậy, đến trạm y tế ph­ường khám chữa bệnh vẫn là sự lựa chọn cao. Có một số nơi số bệnh nhân đến khám tại trm y tế phường khá đông. Trạm y tế các phường của quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, số bệnh nhân đến khám cao nhất là gần 100 người, và thấp nhất là 15-16 người/ngày, riêng Phường Tân Q, số lượt người đến khám chữa bệnh tại trạm trung bình trên 60l/ngày.

Nguyên nhân một số trạm y tế phường vẫn đông bệnh nhân do địa điểm thuận lợi, bác sỹ có chuyên môn tốt gắn bó với trạm y tế lâu năm, uy tín với nhân dân. Ngư­ời dân lựa chọn trạm y tế ph­ường còn vì  thủ tục thuận lợi, đơn giản, cơ sở vật chất, trang thiết bị của trạm y tế tốt, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, Chương trình phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã là một động lực thúc đẩy các trạm y tế phường nâng cao khả năng khám chữa bệnh tại trạm, nâng cao khả năng thu hút bệnh nhân.

- Tại phần lớn các trạm y tế phường, số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh không nhiều do: - Trên địa bàn có nhiều bệnh viện lớn của trung ương, thành phố, quận và các cơ sở y tế tư nhân. - Nhân lực của các trạm y tế phường phần lớn không đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt là các phường đông dân. Trong khi nhân lực thiếu thì bác sỹ công tác tại trạm y tế  giảm đi rất nhiều do thực hiện Nghị định 171,172. Ở Quận Long Biên, Hà Nội, số lượng bác sỹ giảm 50%. Ở Quận Hải Châu, Đà Nẵng, số lượng trạm y tế có bác sỹ từ 100% giảm xuống còn 46%. Ở thành phố Hồ Chí Minh từ 100% giảm còn 78% - Đời sống của cán bộ y tế phường còn rất thấp cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của y tế phường nói chung và đến công tác khám chữa bệnh nói riêng. - Về trang thiết bị y tế, phần lớn các trạm y tế phường được trang bị theo danh mục chuẩn Quốc gia. Nhưng những trang bị đó chưa thật phù hợp với những trạm có bác sỹ. Chính vì vậy nhiều trạm y tế phường đã được trang bị máy siêu âm, máy điện tim, máy xét nghiệm, máy khí dung (xông họng). Ở một số địa phương các trang thiết bị này đã có những hiệu quả tốt. Song trong thực tế nhiều trạm y tế sau khi bác sỹ chuyển đi thì những trang bị đó không có người sử dụng, gây ra tình trạng lãng phí.

2- Thực hiện các chương trình y tế quốc gia.

Trong các chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế phường thỡ triển khai các chương trình y tế quốc gia là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Số liệu thăm dò trạm trưởng các trạm y tế, 62,9%  cho rằng rất cần thiết, 37,1%  cần thiết, không có ý kiến nào cho là bình thường, ít cần thiết hoặc không cần thiết.

Ở tất cả các trạm y tế phường đều phải thực hiện đầy đủ 10 chương trình y tế Quốc gia. Trong đó những chương trình quan trọng nhất là: - tiêm chủng mở rộng - phòng chống sốt xuất huyết, - phòng chống lao - vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổng hợp ý kiến của trạm y tế các phư­ờng về những chương trình quan trọng nhất thì mức dộ rất cần thiết và cần thiết  lần lượt là: chương trình TCMR 82,26% và 17,14%, chương trình lao và phòng chống sốt xuất huyết 74,29% và 24,71%, chương trình an toàn thực phẩm  64,71% và 35,29%.

Nhìn chung việc tổ chức thực hiện các chương trình y tế Quốc gia của các trạm y tế phường cơ bản là tốt; công tác chỉ đạo của ngành chặt chẽ, chính quyền các cấp quan tâm, luôn coi là một nhiệm vụ trọng tâm; nhân dân các địa phương nhận rõ tầm quan trọng và tích cực tham gia. Thăm dò ý kiến của nhân dân, 27,19% số người được hỏi cho là rất tt, 55,12% cho là tốt, chỉ có 7,35% cho là yếu kém.

Thời gian dành cho nhiệm vụ này ở tất cả các phường đều chiếm trên 50%, có phư­ờng 70% và 80%. Đặc biệt gần đây bệnh nhân lao và tâm thần tăng nhanh: phường Tân Quý, quận Tân Phú. TP. HCM có 100 bệnh nhân tâm thần, khoảng 50 bệnh nhân lao. Phường Tân Thành phải thường xuyên quản lý 50 bệnh nhân tâm thần, 40 bệnh nhân lao. Ở phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thường xuyên quản lý 56 bệnh nhân tâm thần, 20 bệnh nhân lao.

Tuy nhiên trong việc thực hiện các chương trình y tế quốc gia có sự bất cập, như chương trình an toàn vệ sinh thực phẩm vừa mang tính chất quản lý nhà nước vừa chuyên môn kiểm tra vệ sinh thực phẩm, trong khi nhân lực của trạm ít, chưa có chuyên môn sâu về vệ sinh an toàn thực phẩm.

3 - Công tác phát hiện và xử lý dịch bệnh.

Vai trò của trạm y tế phường trong công tác phát hiện dịch bệnh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Số liệu thăm dò người dõn về mức độ quan trọng của nhiệm vụ này thì phần lớn cho rằng là nhiệm vụ rất cần thiết, rất ít cho là nhiệm vụ cần thiết, không có ý kiến nào cho là nhiệm vụ ít cần thiết, hoặc không cần thiết. thành phố Đà Nẵng và Cần Thơ 100% ý kiến cho là nhiệm vụ rất cần thiết, ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này là 75 và 72,4%.

Công tác phát hiện dịch bệnh đã được các trạm y tế phường thực hiện tốt. Thăm dò ý kiến của nhân dân địa phương, 20,52% cho là rất tốt, 57,65% cho là tốt, chỉ có 7,74% cho là yếu kém. 

Hiện nay, việc phát hiện dịch chủ yếu qua hai kênh. Thứ nhất là kênh từ cộng đồng, kênh này do tổ dân phố, nhân viên y tế khu phố khi phát hiện dịch bệnh báo cho  trạm y tế. Thứ hai là kênh do các bệnh viện, trung tâm y tế quận phát hiện dịch do các bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại cơ sở của mình ri thông báo ngược về cho trạm y tế phường.

4- Truyền thông giáo dục sức khoẻ.

Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cũng là một nhiệm vụ trọng tâm của trạm y tế phường. Số liệu thăm dò về mức độ quan trọng của nhiệm vụ này, đánh giá rất cần thiết ở Hà Nội là 75%, Đà Nẵng và Cần Thơ là 50%, thành phố Hồ Chí Minh là 42,9%, số ý kiến còn lại thì chủ yếu cho rằng đây là nhiệm vụ cần thiết, 12,5% ý kiến ở thành phố Đà Nẵng và Cần Thơ cho rằng là nhiệm vụ bình thường.

Nội dung giáo dục truyền thông tập trung vào công tác phòng chống dịch, giữ gìn vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêm chủng mở rộng, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tai nạn thương tích, kế hoạch hóa gia đình, những nội dung về chính sách liên quan đến công tác chăm sóc sức khỏe. Các trạm y tế phường có nhiều hình thức truyền thông như viết tin, thu thập thông tin để truyền tin trên đài phát thanh của phường, phân phát tờ rơi, áp phích, tổ chức góc truyền thông tại trạm y tế, tổ chức thông tin truyền miệng thông qua cán bộ của trạm, đội ngũ nhân viên y tế khu phố, cộng tác viên, cán bộ khu phố, cán bộ các đoàn thể. Trong đó hình thức truyền thông qua hệ thống phát thanh được sử dụng rộng rãi, thường xuyên và lan truyền rộng. Tuy nhiên hình thức này hạn chế về chiều sâu, số lượng người chú ý lắng nghe để hiểu đầy đủ còn ít, ngược lại hình thức truyền thông trực tiếp hạn chế về số người được tuyên truyền nhưng có chiều sâu hơn, dễ tiếp thu và nắm vững vấn đề hơn.

Đánh giá về công tác truyền thông giáo dục sức khỏe của trạm y tế phường, qua thăm dò ý kiến nhân dân thì 25,72% cho là rất tốt, 59,33% cho là tốt, chỉ có 5,18% cho là yếu kém. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe tại các Trạm Y tế phường cũng còn nhiều hạn chế, do nhân lực ít, tài chính cho công tác truyền thông không nhiều, Bộ Y tế chưa có danh mục trang thiết bị truyền thông cho Trạm y tế.

5-  Tuyên truyền vận động, triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn về BVSKBMTE và KHHGĐ, bảo đảm việc quản lý thai, khám thai và đỡ đẻ thường.

Các trạm y tế phường khu vực đô thị ở cả 4 thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng đều không thực hiện nhiệm vụ đỡ để thường. Sở Y tế các thành phố này đã có quyết định như vậy và đó là quyết định phù hợp với thực tiễn. Số liệu thăm dò các trạm trưởng 15,15% cho là rất cần thiết, 15,15% cho là cần thiết, 6,6% cho là bình th­ường, 24,24% cho là ít cần thiết, 39,39% cho là không cần thiết.

các thành phố có sự khác nhau khá lớn. Cần Thơ có nhiều ý kiến cho rng đây là nhiệm vụ rất cần thiết hoặc cần thiết là do ý kiến ở Quận Ô Môn là Quận mới chuyến tên từ huyện, còn mang nhiều tính chất của các trạm y tế vùng nông thôn. Ơ Đà Nng có ý kiến cho là nhiệm vụ cần thiết do điều tra ở Quận Sơn Trà có nhiều trạm y tế vẫn mang dáng dấp trạm y tế ở vùng nông thôn.

Đánh giá về công tác đỡ đẻ thường ở trạm y tế phường, qua thăm dò ý kiến của người dân thì 8,72% cho là rất tốt, 16,35% cho là tốt, 33,79% cho là yếu kém. Ở thành phố Hà Nội, 100% cho là kém.

Các trạm y tế phường hiện nay không đỡ đẻ, nên không có trang thiết bị đỡ đẻ, chỉ có trang bị gói đỡ đẻ cho các trường hợp đẻ rớt. Tuy nhiên, vẫn thực hiện hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản, như khám phụ khoa, khám thai nhi, quản ly và theo dõi tỷ lệ thai nghén trên địa bàn.

6-  Phát hiện, báo cáo UBND và cơ quan quản lý cấp trên các hành vi hoạt động y tế phạm pháp trên địa bàn để kịp ngăn chặn và xử lý.

Công tác quản lý hành nghề y d­ược t­ư nhân là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Qua thăm dò các trạm trưởng, 37,1% cho là nhiệm vụ rất cần thiết, 34,3% cho là nhiệm vụ cần thiết, 14,3% cho là nhiệm vụ bình thường, 8,6% cho là nhiệm vụ ít cần thiết, 5,7% cho là nhiệm vụ không cần thiết.

Ơ thành phố Cần Thơ là nơi có nhiều ý kiến cho rằng đây là nhiệm vụ rất cần thiết, ngược lại ở thành phố Hồ Chí Minh có tới 28,6% cho là nhiệm vụ không cần thiết, vì có nhiều người cho rng trạm y tế phường chỉ có vai trò “chỉ trỏ” trong kiểm tra y tế tư­ nhân. Nhiệm vụ này hiện nay chủ yếu là nhiệm vụ của y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện. Việc kiểm tra hành nghề y dược t­ư nhân chỉ có thể do Sở Y tế hoặc Phòng Y tế tổ chức thực hiện, còn trạm y tế xã chỉ có thể tham gia vào các đoàn kiểm tra nói trên. Tuy nhiên, cũng cần phải phát huy vai trò của trạm y tế phường trong công tác này. 

Nội dung các trạm y tế phường tham gia công tác quản lý hành nghề y dược tư nhân là:

Phòng y tế gửi danh sách các cơ sở y dược tư nhân cho trạm y tế các phường để theo dõi, danh sách có các nội dung như: tên cơ sở, địa chỉ, năm hành nghề, hạn giấy phép hành nghề...; Trạm y tế dựa vào danh sách theo dõi và phát hiện sai phạm, phát hiện các cơ sở mới hoặc những cơ sở đã di chuyển địa điểm, hoặc không còn hoạt động, theo dõi, báo cáo cho Phòng Y tế và UBND phường để phối hợp can thiệp nếu sai phạm.     

Kết luận

- Tổ chức của trạm y tế phường khu vực đô thị ổn định, mặc dù tổ chức y tế tuyến huyện có nhiều biến động. Phần lớn các trạm y tế phường có biên chế ở mức độ tối thiểu theo định biên quy định trong Thông tư liên bộ Y tế, Tài chính, Lao động và Thương binh, Xã hội số 08/TT-LB ngày 20/4/1995. Biên chế tương đối đủ các chức danh như y sỹ đa khoa, nữ hộ sinh trung học, y tá, ... đảm bảo được nhân lực trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên về nhân lực nhiều trạm đông dân cư không được bổ sung tương ứng, hợp lý.

- Công tác khám chữa bệnh ở trạm y tế ph­ường vẫn là nhiệm vụ rất cần thiết, mặc dù số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh không nhiều, trung bình trên 10 lượt người/ngày. Tuy nhiên vẫn có những trạm y tế cũng trong hoàn cảnh như­ vậy như­ng vẫn có khả năng thu hút được nhiều bệnh nhân do có uy tín, do tạo ra được nhiều dịch vụ, như­ nha khoa, siêu âm, xét nghiệm, đông y. Như­ vậy có thể khẳng định là trạm y tế phường khu vực đô thị nếu đ­ược chuẩn bị tốt về cơ sở, trang thiết bị, cán bộ thì vẫn có điều kiện thực hiện có hiệu quả công tác khám chữa bệnh.

- Thực hiện các chương trình y tế quốc gia là một nhiệm vụ trọng tâm của trạm y tế xã ph­ường. Thời gian dành cho hoạt động này ít nhất là 50% và có thể tới 70-80%. Trong các chương trình y tế Quốc gia thì chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống lao, tâm thần, v sinh an toàn thực phm là những ch­ương trình trọng điểm nhất hiện nay. Trong việc thực hiện các chương trình y tế Quốc gia cũng có những vấn đề bất cập là chiếm nhiều thời gian, nhất là thời gian làm sổ sách, báo cáo, trong 10 chương trình thì chỉ có 4 ch­ương trình có tiền bồi d­uỡng cũng gây ra những khó khăn cho việc phân công tổ chức thực hiện.

- Trong việc thực hiện những nhiệm vụ của trạm y tế phường thì hiện nay nổi lên  nhiệm vụ quản lý bệnh nhân lao, tâm thần, quản lý các bệnh mãn tính. Trong khi đó, nhiệm vụ đỡ đẻ thường không còn thích hợp đối với trạm y tế phường. Ng­uời dân đã lựa chọn các bệnh viện có trình độ chuyên môn cao hơn để sinh con. Trong thực tế thì các địa ph­ương đã có quyết định không làm nhiệm vụ đỡ đẻ th­ường ở trạm y tế phường.

- Những vấn đề bất cập ở trạm y tế phường hiện nay: Một là, trạm y tế phường bị hạn chế về khám chữa bệnh dịch vụ, là một trạm y tế có bác sỹ, có nhiều cán bộ khác, có phương tiện, nhưng không được quyền so với cơ sở tư nhân nhỏ bé hơn. Hai là vấn đề nhân lực, số lư­ợng nhân viên y tế không hợp lý ở những phường có dân số quá đông.. Số bác sĩ công tác ở trạm y tế có chiều h­ướng giảm đi rõ rệt.

-  Đời sống cán bộ và nhân viên y tế ở tuyến phường phần lớn còn quá thấp, lương thấp, phụ cấp thấp, nhiều nơi không có hoặc có rất ít những khoản thu nhập khác. Phụ cấp trực đêm vẫn giữ mức từ lâu 10.000đ/đêm là không thỏa đáng, giá các khám chữa bệnh các loại cũng quá thấp và không thay đổi là những vấn đề khá bức xúc ở tuyến cơ sở.

 Kiến nghị

- Trước những yêu cầu mới, đòi hởi trạm y tế phường phải đổi mới, nâng cao năng lực trong đó có năng lực khám chữa bệnh, ít nhất năng lực đó phải tương đương với một phòng khám tư nhân nhỏ hoặc trung bình trên địa bàn. Muốn vậy, -  Nhất thiết các trạm y tế phường phải có bác sỹ làm công tác khám chữa bệnh, tốt  nhất có một bác sỹ giữ cương vị đầu đàn về công tác chuyên môn. Phải bố trí đủ nhân lực theo định biên,  -  Trang bị y tế, trước hết đủ theo Chuẩn Quốc gia quy định và có thể trang bị thêm một số thiết bị kỹ thuật cao như máy siêu âm, xét nghiệm... phù hợp với năng lực chuyên môn của bác sỹ. - Cán bộ trạm y tế phải thường xuyên được tập huấn, đào tạo lại, đào tạo bổ sung 

- Trạm y tế phường phải đóng vai trò như một bác sỹ gia đình, có thể đảm trách các công việc quản lý sức khỏe cộng đồng, quản lý bệnh mãn tính (tim mạch, tiểu đường, tai biến), quản lý sức khỏe nhân dân, các nhiệm vụ chăm sóc hậu sản, khám thai, chăm sóc người già.

- Cần xây dựng quy chế rõ ràng trạm y tế xã phường là một cơ sở khám chữa bệnh có quyền thu dịch vụ y tế và xây dựng bảng giá dịch vụ y tế tại tuyến này.

- Thiết lập lại mạng lưới cộng tác viên khu phố theo định hướng thống nhất một đầu mối cộng tác viên hoạt động các chương trình riêng lẻ, có đào tạo, hướng dẫn rõ ràng.

- Xem xét điều chỉnh nhiệm vụ đỡ đ th­ường tại trạm y tế ph­ường. Tăng cường nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, theo dõi phụ nữ trong quá trình thai nghén và chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh.

 



[1] Quyết định 58/TTg ngày 03 tháng 02 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở. Thông tư liên bộ Y tế, Tài chính, Lao động-Thương binh và xã hội số 08/TT-LB ngày 20 tháng 4 năm 1995 đã cụ thể hóa những nhiệm vụ trong Quyết định 58/TTg thành 11 nhiệm vụ. Nghiên cứu này tập trung đánh giá tình hình thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm mang tính nghiệp vụ chuyên môn.


 [PTT1]Con số không đúng