Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Bàn về mô hình chuyển tuyến trong tương lai  (17/04/2013)
Mạng lưới khám chữa bệnh được sắp xếp trên cơ sở phân bố rộng khắp, thuận tiện cho khả năng tiếp cận rộng rãi của các bộ phận dân số khác nhau trong toàn xã hội. Mạng lưới khám chữa bệnh hiện nay phần lớn là các bệnh viện do Nhà nước quản lý; tính đến cuối năm 2010, cả nước có 1.148 bệnh viện, chưa kể các bệnh viện quân đội do Bộ Quốc phòng quản lý. Các bệnh viện công lập của ngành y tế chiếm chủ yếu, khoảng 87% tổng số bệnh viện, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước bao gồm 4 tuyến như sau:
 

 

 

TS. Dương Huy Liệu - Hội KHKTYTVN


BS. Nguyễn Văn Đoàn-  Hội KHKTYTVN

 

Trong những năm qua, được sự đầu tư của Nhà nước, công tác khám bệnh, chữa bệnh đã từng bước được cải thiện đáng kể, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh đã và đang được xây dựng, cải tạo, nâng cấp; khả năng tiếp cận của người dân với dịch vụ y tế thuận lợi hơn; nhiều công nghệ, kỹ thuật y học mới được triển khai, áp dụng thành công ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, một số kỹ thuật điển hình trong năm như: ghép phủ tạng, bao gồm ghép tim; kỹ thuật ghép tạng từ người cho chết não; phương pháp ghép giác mạc lớp thay thế cho phương pháp phẫu thuật ghép xuyên; ứng dụng tế bào gốc trong điều trị; kỹ thuật đặt máy hỗ trợ tâm thất trái; các kỹ thuật tim mạch can thiệp, chẩn đoán gen di truyền trước chuyển phôi (PGD); các kỹ thuật nội soi, phaco laser được tăng cường, đã có thêm nhiều cơ sở thực hiện được và phát huy hiệu quả…

 

 

Tuy nhiên, cùng với những thành tựu, công tác khám chữa bệnh ở nước ta còn có nhiều khó khăn, bất cập, chưa thích ứng kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế xã hội; sự thay đổi về cơ cấu bệnh tật; nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao và đa dạng của nhân dân; Đặc biệt là trong những năm gần đây hiện tượng quá tải bệnh viện trở nên ngày càng trầm trọng, tình trạng người bệnh điều trị nội trú phải nằm ghép đôi, thậm chí 3 đến 4 người trên một giường bệnh ở nhiều bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện tuyến cuối của các thành phố lớn thuộc các chuyên khoa như: ung bướu, tim mạch, nhi, sản, chấn thương chỉnh hình đã trở thành phổ biến. Tình trạng này đã gây khó khăn, bức xúc cho người bệnh, cán bộ y tế và xã hội và tác động tiêu cực tới chất lượng khám bệnh, chữa bệnh. Việc giải quyết tình trạng quá tải này đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội và là ưu tiên hàng đầu của ngành y tế. Vì vậy, ngoài các giải pháp chống quá tải hữu hiệu cần có một cơ chế chuyển tuyến bệnh nhân phù hợp trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai.

  Mạng lưới khám chữa bệnh được sắp xếp trên cơ sở phân bố rộng khắp, thuận tiện cho khả năng tiếp cận rộng rãi của các bộ phận dân số khác nhau trong toàn xã hội. Mạng lưới khám chữa bệnh hiện nay phần lớn là các bệnh viện do Nhà nước quản lý; tính đến cuối năm 2010, cả nước có 1.148 bệnh viện, chưa kể các bệnh viện quân đội do Bộ Quốc phòng quản lý. Các bệnh viện công lập của ngành y tế chiếm chủ yếu, khoảng 87% tổng số bệnh viện, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước bao gồm 4 tuyến như sau:

a) Tuyến trung ương;

b) Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

c) Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

d) Tuyến xã, phường, thị trấn.

Tuyến trung ương dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Y tế, tuyến tỉnh và tuyến huyện do Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý, tuyến xã, phường thị trấn do Trung tâm y tế huyện quản lý. Số lượng bệnh viện ở 3 tuyến có tỷ lệ tương ứng 1: 9:18. Tổng số giường bệnh của toàn hệ thống bệnh viện năm 2010 là 187.716 giường bệnh, tương ứng với tỷ lệ 20,5 giường bênh trên 1 vạn dân. Trong đó, tỷ lệ giường bệnh của các tuyến trung ương/ tỉnh/ huyện tương ứng là: 11% : 49%: 32% trên tổng số giường bệnh cả nước. Bệnh viện thuộc các Bộ, ngành (chiếm khoảng 2% tổng số bệnh viện). Bệnh viện tư nhân (chiếm khoảng 11% tổng số bệnh viện). 

 

Bảng 1. Tổng số bệnh viện và giường bệnh theo phân tuyến điều trị (năm 2010)

 

 

 

 

 

Tuyến bệnh viện

 

 

Tổng số Bệnh viện

 

 

Tổng số giường bệnh

 

 

Số lượng

 

 

%

 

 

Số lượng

 

 

%

 

BV trực thuộc Bộ Y tế

 

 

38

 

 

3,1

 

 

 20.510

 

 

10,9

 

 

BV tuyến tỉnh

 

 

321

 

 

27,9

 

 

 91.851

 

 

48,9

 

 

BV tuyến huyện

 

 

645

 

 

56,2

 

 

 60.148

 

 

32,0

 

 

BV ngành

 

 

25

 

 

2,1

 

 

 8.287

 

 

4,4

 

 

BV tư nhân

 

 

121

 

 

10,5

 

 

 6.920

 

 

3,7

 

 

Tổng

 

 

1148

 

 

100

 

 

 187.716

 

 

100

 

 

  Tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến Trung ương này không những không giảm mà thậm chí đang xu hướng gia tăng, công suất sử dụng giường bệnh chung của các bệnh viện Trung ương năm 2009 là 116% tăng lên 120% năm 2010 và 118% năm 2011. Trầm trọng hơn cả là các bệnh viện: Bệnh viện K: 249%; Bệnh viện Bạch Mai: 168%; Bệnh viện Chợ Rẫy 154%; Bệnh viện Phụ sản Trung ương 124%; Bệnh viện Nhi Trung ương 112%....  

 Tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến tỉnh cũng ở mức tương đối cao, công suất sử dụng giường bệnh chung của các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh năm 2011 là 114%. Trong đó, nhóm bệnh viện đa khoa, chiếm tới 75% tổng số bệnh viện tuyến tỉnh và 36,8% số bệnh viện này hiện đang có công suất sử dụng giường bệnh vượt 100% và cần có các biện pháp giảm quá tải bệnh viện; đối với bệnh viện chuyên khoa, 100% số bệnh viện ung bướu và 70% số bệnh viện chuyên khoa sản nhi có công suất sử dụng giường bệnh vượt 100%.

 

Tuy nhiên, tình trạng quá tải trên, một phần tạo nên là do hiện tượng quả tải “ảo”. Đó là, sự không cân đối của luồng người bệnh đến các cơ sở khám chữa bệnh:

 

 

- Trong khi 34,4% bệnh viện quá tải (công suất sử dụng giường bệnh trên 100%) thì lại có 29% bệnh viện chưa đủ tải (công suất sử dụng giường bệnh dưới 85%); trong khi công suất suất sử dụng giường bệnh là 109% tại các bệnh viện tuyến tỉnh thì tại bệnh viện huyện là 78% thậm chí trên cùng một vùng sinh thái (vùng Đông Nam Bộ).

 

 

Năm 2009 Quốc Hội thông qua Luật khám chữa bệnh được cụ thể hoá phân tuyến điều trị theo bậc thang từ thấp đến cao (trạm y tế xã đến Trung ương), hệ thống phân tuyên này có ưu điểm là:

- Khám chữa bệnh trình độ từ thấp đến cao theo bậc thang điều trị;

   - Các tuyến hỗ trợ nhau về chuyên môn kỹ thuật;

  - Bảo đảm tính hệ thống và tính liên tục trong hoạt động chuyên môn của từng tuyến và giữa các tuyến;

Bên cạnh đó tồn tại bất hợp lý trong phân tuyến hiện nay là:

- Hệ thống chuyển tuyến theo địa giới hành chính sẽ không đáp ứng sự mong mỏi của người dân vì phải qua nhiều bước, trong khi người bệnh cần được khám chữa bệnh ở tuyến có trình độ chuyên môn cao trong thời gian sớm nhất;

- Qua khảo sát, nhiều địa phương có hệ thống bệnh viện tỉnh đã phát triển ngang tầm các bệnh viện Trung ương, nhưng do quy định chuyển tuyến theo địa giới hành chính nên từ địa phương này chuyển qua địa phương khác không được chấp nhận, ví dụ Bệnh Viện Nhi Thanh Hoá có khả năng mổ tim, có thể tiếp nhận được các bệnh nhân trong khu vưc (Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình…), nhưng do quy định chuyển tuyến nên phải chuyển về Hà Nội, mất nhiều thời gian và càng tăng quá tải cho tuyến Trung ương;

- Thuốc bảo hiểm y tế chưa tương ứng với phân tuyến kỹ thuật; quy định chuyển tuyến từ tuyến dưới lên tuyến trên và tuyến trên xuống tuyến dưới còn chậm và chưa cập nhật thường xuyên. 

   - Cơ chế tài chính, giá dịch vụ khám chữa bệnh và tác động không mong muốn.

  - Tình trạng vượt tuyến không theo quy định đã gây nhiều khó khăn cho người bệnh, đặc biệt là phải phải tự chi trả 70% viện phí khi vượt tuyến. Có nhiều bệnh nhân vượt tuyến mà không cần chỉ định của bác sĩ, nên một số bệnh nhân không nhất thiết phải vào điều trị tại tuyến trên.

 

 

Hiện nay, mặc dù đầu tư cho y tế có tăng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân và vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực, đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu khám chữa bệnh với chất lượng cao và đa dạng của người dân tăng, người bệnh có quyền tự lựa chọn nơi khám chữa bệnh, nên nhiều người đã đến thẳng các bệnh viện lớn có uy tín chuyên môn, không còn tuân thủ tuyến điều trị và hệ thống chuyển viện. 75% người bệnh đến khám tại các bệnh viện tuyến trên là người bệnh vượt tuyến, trong khi 56% số người bệnh đó là hoàn toàn có thể khám chữa bệnh tại tuyến dưới (thậm chí 90% số khám ở Bệnh viện Nhi Trung ương là có thể điều trị ở tuyến dưới).

 

 

Xuất phát từ thực tế cần phải cân nhắc tìm phương án chuyển tuyến bệnh nhân phù hợp, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân; đồng thời hạn chế những bất cập theo quy định chuyển tuyến hiện nay.

 

Trong một nghiên cứu khảo sát xây dựng Quy hoạch tổng thể hệ thống y tế Việt Nam đến giai đoạn 2020 và định hướng đến năm 2030, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu gửi phiếu thăm dò lấy ý kiến các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế và các địa phương về hệ thống chuyển tuyến bệnh nhân, kết quả cho thấy:

 

  - Phương án 1: Duy trì hệ thống chuyển tuyến như hiện nay có 11% số phiếu

- Phương án 2: Thiết lập hệ thống chuyển tuyến “mềm”có 68% số phiếu (trong đó có 88% đề nghị thực hiện trước năm 2020 và 12% thực hiện sau 2020 (Trên địa bàn tỉnh, thành phố, các bệnh viện được quyền tiếp nhận bệnh nhân chuyển từ trạm y tế xã, bác sỹ gia đình hoặc các bệnh viện được giao nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu trong hệ thống bảo hiểm y tế và được quyền chuyển bệnh nhân tới các cơ sở khám chữa bệnh đa khoa hoặc chuyên khoa có trình độ chuyên khoa cao hơn và phù hợp thuộc trung ương hoặc các tỉnh, thành phố khác);

 

  - Phương án 3: Bỏ hệ thống chuyển tuyến có 21% số phiếu  (Các bệnh viện được đánh giá chủ yếu theo hạng bệnh viện. Người dân sau khi được khám và hướng dẫn của trạm y tế xã, bác sỹ gia đình hoặc bệnh viện được giao làm nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu trong hệ thống bảo hiểm y tế sẽ được tiếp cận trực tiếp với các bệnh viện tuỳ theo tình trạng bệnh tật không phụ thuộc vào đơn vị hành chính hoặc tuyến bệnh viện).

 

 

Biểu đồ 1. Phiếu thăm dò chuyển tuyến bệnh nhân:

 

 

          Qua kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các phiếu lấy ý kiến đều tập trung vào phương án 2” Thiết lập hệ thống chuyển tuyến mềm”, đặc biệt là Trường đại học Y Dược  Thành phố Hồ Chí Minh đã lấy ý kiến rộng rãi các cán bộ giảng dạy trong truờng cho thấy kết quả là 86% không đồng ý với chuyển tuyến như hiện nay, 88% đồng ý với hệ thống chuyển tuyến mềm (Phương án 2) thực hiện trước 2020  Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ và Bệnh viện Nội Tiết Trung ương đã lấy ý kiến  các khoa cũng đều tập trung thống nhất thực hiện theo phương án 2 trước năm 2020. Như vậy, qua khảo sát thấy rằng việc thực hiện theo phương án 2 “Thiết lập hệ thống chuyển tuyến mềm” đã được đông đảo ý kiến của các đơn vị trực thuộc Bộ cũng như Sở Y tế các tỉnh đồng tình và nhất trí cao. Phương án có nhiều ưu điểm, thuận tiện, nhanh chóng, kịp thời đến nơi khám chữa bệnh thích hợp, Đồng thời  người bệnh trực tiếp được tiếp cận với cơ sở khám chữa bệnh phù hợp với  khả năng chữa bệnh của mình.  

Song song với việc chuyển tuyến bệnh nhân cần tăng cường đầu tư củng cố, nâng cấp đồng bộ và phát triển hệ thống khám bệnh, chữa bệnh, phù hợp với nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh đa dạng của nhân dân và điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng. Kết hợp phát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phổ cập với phát triển kỹ thuật cao, y tế chuyên sâu. Phát triển y tế tư nhân, thực hiện minh bạch hoá các hoạt động liên doanh, liên kết của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập để khắc phục tình trạng công - tư không rõ ràng.  Triển khai các giải pháp tổng thể để giảm quá tải bệnh viện. Từng bước thiết lập lại hệ thống chuyển tuyến trong khám chữa bệnh, khuyến khích việc thực hiện khám chữa bệnh phù hợp theo tuyến chuyên môn, đồng thời tăng cường y tế cơ sở và đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe ban đầu.

 

 

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung