Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Bàn về công tác chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, người cận nghèo vùng đồng bằng Sông Cửu Long  (03/03/2010)
Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) có trên 17,7 triệu dân, chiếm 20,5% dân số cả nước, trong đó trên 79% sống ở nông thôn, có 174 xã đặc biệt khó khăn; gần 2% dân số là đồng bào Khmer sống tập trung ở các tỉnh: Sóc trăng, Trà vinh và Bạc liêu… thu nhập của người dân chủ yếu là nông nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản; GDP bình quân đầu người mới đạt trên 8 triệu đồng/năm.

ĐBSCL có hệ thống y tế tương đối hoàn chỉnh bao gồm: màng lưới y tế dự phòng; sản xuát, kinh doanh thuốc, trang thiết bị y tế; đào tạo cán bộ và mạng lưới  khám chữa bệnh, bình quân 14,26 giường bệnh công lập trên 10 000 dân. Mạng lưới y tế cơ sở phát triển khá với 1530 trạm y tế xã phường, 81% số xã có bác sĩ, 95,4% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 92% số thôn áp có nhân viên y tế hoạt động.  (SL thống kê y tế năm 2008).

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và CSSK người nghèo nói riêng được quan tâm đúng mức. Đặc biệt là việc tổ chức triển khai thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (QĐ 139 TTg) về khám, chữa bệnh (KCB) cho người nghèo và Nghị định 63/2005/ NĐ-CP của Chính phủ (NĐ 63 CP) về ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế. Kết quả khám chữa bệnh từ nguồn chi của Quĩ KCB người nghèo (Quĩ 139) cho thấy:

-  Tỷ lệ người nghèo được KCB ngoại trú/năm là trên 60%; lượt người nghèo KCB bằng 40% tổng số lượt người KCB nói chung; bình quân chi cho 1 lần KCB ngoại trú là 17 000-30 000 đ; nơi KCB ngoại trú chủ yếu là tuyến xã chiếm 62,9%, tuyến huyện 35%; tuyến tỉnh và TW chỉ có 2,1%.

-  Tỷ lệ người nghèo chữa bệnh nội trú/năm từ 3-8%; lượt người nghèo điều trị nội trú bằng 30% tổng số lượt người điều trị nội trú; bình quân chi cho 1 lần điều trị nội trú của người nghèo từ 280 000đ - 520 000đ; nơi KCB nội trú chủ yếu là tuyến huyện chiếm 65,64%; tuyến tỉnh và TW chỉ có 33%.

-  Một số chỉ tiêu quan trọng liên quan tới sức khỏe của nhân dân toàn vùng trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ (theo SL thống kê năm 2008):  Tỷ lệ sinh thô 15,9%o, tỷ lệ chết thô 4,9%o; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 11%o;  Tỷ lệ chết trẻ em <1 tuổi (IMR) 11%o; thấp hơn so với bình quân cả nước (15%o); Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi  (cân nặng theo tuổi) 19,3%, thấp hơn so với bình quân cả nước (19,9%).

Những thành tựu trong công tác CSSK nhân dân nói chung và chăm sóc sức khỏe người nghèo nói riêng của ĐBSCL gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp, sự kết hợp của các Ban, ngành, các đòan thể và các tổ chức xã hội ở các địa phương và sự chủ động, tích cực của ngành y tế. các tỉnh ĐBSCL.

Tuy nhiên, nhìn toàn cảnh về sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nói chung và CSSK người nghèo nói riêng vùng ĐBSCL còn một số khó khăn thách thức lớn: (i) Theo chuẩn nghèo mới, tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng rất cao: 19,52%, cao hơn so với mặt bằng chung cả nước ở cùng thời điểm (năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước là 17%) và đương nhiên tỷ lệ hộ cận nghèo cũng cao tương tự; (ii) Sự phân hóa giầu nghèo trong cơ chế kinh tế thị trường ngày càng rõ nét. Gianh giới giữa người nghèo và người có thu nhập thấp (cận nghèo) là không đáng kể. Nguy cơ tái nghèo khi ốm đau bệnh tật của người dân, nhất là đồng bào Khmer là rất cao; (iii) Các chỉ tiêu cơ bản như giường bệnh, cán bộ , trang thiết bị và đầu tư cho y tế  đều ở mức thấp so với trung bình toàn quốc; (iv) Kinh phí hỗ trợ người nghèo sử dụng các dịch vụ y tế chủ yếu từ  nguồn ngân sách trung ương. Ngân sách địa phương bảo đảm chi cho mục tiêu này còn hạn hẹp; (v) Các chỉ tiêu liên quan tới sức khỏe của nhân dân còn ở mức khiêm tốn; (vi) Mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân đến năm 2014 là một thách thức lớn.

Để Tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, người cận nghèo vùng ĐBSCL trong thời gian tới, góp phần phát triển kinh tế –xã hội toàn vùng, chúng ta cần tập trung giải quyết một số vấn đề chủ yếu sau đây:

Một là tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở theo Chỉ thị 06 CT-TW của Ban Bí thư trung ương. Mặc dù mạng lưới y tế cơ sở (xã, huyện) của ĐBSCL phát triển khá nhưng nơi đây có tới 97,9% người nghèo đến khám chữa bệnh. Nhu cầu của người dân đòi hỏi chất lượng khám chữa bệnh ngày một cao. Một số nơi đã xuất hiện tình trạng quá tải về số bệnh nhân khám, chữa bệnh ở trạm y tế xã như ở Đồng Tháp. Do vậy y tế cơ sở phải được phát triển cả về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và nhân lực y tế theo Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đọan 2001- 2010, được Bộ Y tế ban hành năm 2002 theo Quyết định 370 QĐ-BYT.

Hai là tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế: Đây là khâu then chốt để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Phát triển nguồn nhân lực y tế của ĐBSCL phải bao gồm cả số lượng và chất lượng ở tất cả các lĩnh vực: cả y tế phổ cập và y tế chuyên sâu (y tế kỹ thuật cao), cả phòng bệnh và chữa bệnh, cả chuyên môn và quản lý. Có vậy từng bước ĐBSCL mới bảo đảm đủ về số lượng và chất lượng cán bộ y tế phục vụ nhân dân.

Ba là phát triển các mũi nhọn y tế chuyên sâu ở các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, thành phố: Ngày nay việc ứng dụng các kỹ thuật y tế hiện đại như: chẩn đóan hình ảnh; chẩn đoán, phẫu thuật nội soi; thụ tinh trong ống nghiệm, ghép tạng; sử dụng công nghệ dao mổ Gramma … là yêu cầu cấp bách của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế và đầu tư của nhà nước còn có hạn nên mỗi bệnh viện cần lựa chọn để phát triển một số mũi nhọn chuyên sâu mà đơn vị có thế mạnh.  

Bốn là tổ chức, chỉ đạo việc thực thi các chế độ chính sách của Đảng và Chính phủ và có những chính sách cụ thể của địa phương để hỗ trơ người nghèo, người cận nghèo khi họ ốm đau, phải khám chữa bệnh. Ngoài việc triển khai thực hiện tốt Luật Bảo hiểm y tế, Nghị định 62CP của Chính phủ hướng dẫn Luật Bảo hiểm y tế cùng các văn bản pháp qui có liên quan, các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần xây dựng những chính sách cụ thể thông qua Quĩ 139 cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương như: Chính sách hỗ trợ người cận nghèo tham gia BHYT; chính sách hỗ trợ người nghèo, người cận nghèo có thẻ BHYT thanh toán các khoản chi phí khi phải sử dụng dịch vụ y tế kỹ thuật cao vượt mức chi trả của BHXH; chính sách hỗ trợ viện phí cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người lang thang cơ nhỡ …  khi KCB ở các cơ sở y tế công lập,

 Năm là cần tranh thủ viện trợ quốc tế cho chăm sóc sức khỏe nhân dân: Hiện nay ĐBSCL được Nhà nước cho tiếp nhận dự án “Hỗ trợ y tế vùng ĐBSCL” sử dụng vốn vay của Ngân hàng thế giới và vốn viện trợ không hoàn lại Chính phủ Nhật bản giai đọan 2006-2011. Mục tiêu tổng quát của DA là hỗ trợ nâng cao năng lực hệ thống y tế vùng ĐBSCL, tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng với chi phí hợp lý của người dân, đặc biệt là người nghèo, góp phần phát triển kinh tế xã hội của toàn vùng.   

Bên cạnh các nội dung: (i) Tăng cường đầu tư trang thiết bị, nâng cao năng lực và chất lượng điều trị; (ii) hỗ trợ phát triển mạng lưới y tế dự phòng; (iii) tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; dự án còn có một thành phần hết sức quan trọng là (iv) hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo và người có thu nhập thấp. Mục đích của thành phần này nhằm hỗ trợ các địa phương triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm y tế và các chính sách của Chính phủ về khám chữa bệnh cho người nghèo, người cận nghèo, góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của toàn vùng.

Dự án đã dành một nguồn lực đáng kể giúp các địa phương: (i) Hỗ trợ cho người nghèo, người cận nghèo có thẻ BHYT thanh toán 50% phần vượt mức chi trả của BHXH khi phải sử dụng dịch vụ y tế kỹ thuật cao; (ii) Hỗ trợ một phần viện phí cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người lang thang cơ nhỡ khi họ phải chữa bệnh ở các cơ sở y tế công lập; (iii) Hỗ trợ 30% mệnh gía BHYT cho người cận nghèo; (iv) Ngoài ra dự án còn có một khoản kinh phí  hỗ trợ các địa phương triển khai các sáng kiến nhằm duy trì và bảo đảm tính bền vững của các cơ chế chính sách KCB cho người nghèo; hỗ trợ tiến trình tiến tới BHYT toàn dân.

Để tranh thủ được nguồn viện trợ này, UBND các tỉnh cần ban hành Quyết định về đối tượng và mức hỗ trợ đối với người nghèo, người cận nghèo khi tham gia BHYT và sử dụng các dịch vụ y tế làm cơ sở pháp lý cho việc giải ngân của dự án. Đồng thời UBND tỉnh giao cho các Ban, ngành, các đòan thể và các tổ chức xã hội ở địa phương tổ chức thực hiện tốt các chính sách CSSK cho người nghèo trên đia bàn.

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới theo Nghị quyết 46/2005/NQ-TW của Bộ chính trị ban chấp hành trung ương là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân ta. Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và chăm sóc sức khỏe người nghèo nói riêng chính là bảo đảm cho sự phát triển con người có thể lực tốt, chất lượng cao, góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung