Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Tự do hóa thương mại và dịch vụ y tế  (03/03/2010)
Trong quá trình hội nhập và tự do hóa thương mại, Việt Nam đã cam kết thực hiện nhiều Hiệp định thương mại quốc tế có liên quan và ảnh hưởng đến các vấn đề liên quan đến sức khỏe. Các Hiệp định này có những ảnh hưởng đối với các vấn đề sức khoẻ khác nhau. Bảng dưới đây tổng hợp sự ảnh hưởng của một số Hiệp định tự do hóa thương mại đối với sức khỏe và hệ thống y tế.
Các vấn đề sức khoẻ cụ thể và liên quan nhất đến thoả thuận WTO
Vấn đề sức khoẻ
Nông nghiệp
SPS
TBT
TRIPS
GATS
GATT
Bệnh truyền nhiễm
 
x
x
 
 
x
An toàn thực phẩm
 
x
 
 
 
 
Kiểm soát thuốc lá
x
 
x
x
x
x
Môi trường
 
x
x
 
 
x
Cơ hội thuốc men
 
 
 
x
 
 
Dịch vụ y tế
 
 
 
 
x
 
Đảm bảo lương thực
x
x
 
 
 
x
Công nghệ sinh học
x
x
x
x
 
 
Công nghệ thông tin
 
 
 
x
x
 
Kiến thức truyền thống
 
 
 
x
 
 
(Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức Thương mại thế giới, 2002)
 
Phần viết này tập trung vào các tác động của GATS đối với hệ thống y tế Việt Nam và đề xuất một số giải pháp đối với hệ thống y tế trong tình hình hội nhập mới, khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định GATS tác động đến dịch vụ y tế thông qua 4 phương thức sau đây:
Phương thức 1 - Cung cấp dịch vụ qua biên giới (cross-border supply): Theo phương thức này, dịch vụ y tế có thể cung cấp từ xa đến Việt Nam và từ Việt Nam đến các nước có cam kết. Qua đó, Việt Nam có thể phát triển lĩnh vực Y học từ xa (Telemedicine), chẩn đoán và điều trị bệnh từ xa. Việt Nam có cơ hội tiếp cận với công nghệ kỹ thuật y tế cao, đặc biệt từ các nước đang phát triển.
Trong thời gian gần đây, Y học từ xa của Việt Nam đã bắt đầu được qua tâm và có những bước phát triển ban đầu. Tại các trung tâm công nghệ y học cao ở Hà Nội và TP. Phố Hồ Chí Minh đã thu được những kết quả ban đầu hứa hẹn. Với sự gia nhập WTO và cam kết này của Việt Nam, quy hoạch phát triển các trung tâm y học cao của Việt Nam (ví dụ trung tâm y học cao tại Hà Nội, Huế-Đà Nẵng, TP. HCM, Cần Thơ) cần lưu ý đến hình thức cung cấp dịch vụ qua biên giới này. Các bệnh viện khu vực cũng cần lưu ý đến phương thức này. Cần lưu ý đầu tư cho đào tạo cán bộ, chuẩn bị cơ sở vật chất, đầu tư phương tiện để có thể khai thác và phát triển lĩnh vực y học từ xa.
Ngoài việc tiếp nhận kỹ thuật y học và dịch vụ y tế từ nước ngoài, Việt Nam cũng có thể xem xét để phát triển, đưa kỹ thuật y học của Việt Nam sang các nước khác thông qua phương thức này.
Phương thức 2 - Sử dụng dịch vụ y tế qua biên giới (Consumption abroad): Phương thức này cho phép người bệnh đi điều trị ở các nước khác và người bệnh từ các nước khác đến Việt Nam để điều trị. Với phương thức này, Việt Nam đã cam kết không hạn chế.
Tại một số nước, việc xuất khẩu dịch vụ y tế được xem là một công cụ để phát triển kinh tế. Các nước có thu nhập thấp thường thu hút bệnh nhân đến từ các nước có thu nhập cao hơn bởi vì hai lý do phổ biến sau: Thứ nhất, tìm đến chữa trị theo y học cổ truyền; thứ hai là giá dịch vụ thấp. Trong thời gian qua, số lượng người nước ngoài (kể cả Việt kiều) đến Việt Nam khám chữa bệnh ngày càng tăng, chủ yếu là do giá viện phí ở Việt Nam thấp (được Nhà nước bao cấp) và sử dụng một số dịch vụ y học cổ truyền của Việt Nam. Bệnh nhân Việt Nam cũng đi khám chữa bệnh ở các nước khác ngày một tăng, chủ yếu là do chất lượng dịch vụ ở các nước khác cao hơn, ví dụ ghép thận ở Trung Quốc, chữa ung thư ở Singapore, chữa răng ở Thái Lan... Khi Việt Nam thực hiện cam kết với WTO, xu hướng người bệnh sử dụng dịch vụ qua biên giới chắc chắn sẽ gia tăng đáng kể. Điều này liên quan đến một số vấn đề sau:
Mức viện phí: Viện phí của các bệnh viện công tại Việt Nam hiện nay đang được Nhà nước bao cấp với mức độ cao, thông qua việc đầu tư NSNN cho hệ thống cung cấp dịch vụ y tế (xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo cán bộ, mua sắm trang thiết bị, chi trả một phần chi phí vận hành...). Mức viện phí này cần phải được xem xét, có mức phí thích hợp đối với những bệnh nhân sử dụng dịch vụ y học cao, bệnh nhân người nước ngoài...
Cơ chế chi trả: Cơ chế chi trả của cơ quan bảo hiểm y tế nước ngoài khi người có BHYT đến khám chữa bệnh tại Việt Nam và ngược lại người bệnh Việt Nam ra nước ngoài khám chữa bệnh cũng cần được quan tâm giải quyết. Vấn đề này có ảnh hưởng nhất định đến việc quản lý của BHYT, mức đóng BHYT...
Sử dụng của người bệnh Việt Nam: Khi lượng bệnh nhân người nước ngoài (thường có thu nhập cao hơn) sử dụng dịch vụ y tế của Việt Nam tăng lên, trong khi khả năng cung cấp dịch vụ y tế của Việt Nam còn có hạn (chủ yếu là dịch vụ y tế kỹ thuật cao), có thể gây ra tình trạng “kham hiếm” các dịch vụ này. Điều này có thể ảnh hưởng đến mức độ sử dụng và quyền lợi được sử dụng dịch vụ y tế của người dân Việt Nam, đặc biệt là những người có thu nhập trung bình và thấp.
Cơ hội mới cho người bệnh: Phương thức này cho phép bệnh nhân người Việt Nam (và người nước ngoài) có nhiều cơ hội và nhiều khả năng lựa chọn dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của mình.
Cơ hội và động lực phát triển y học cao: Việc các bệnh nhân (thường là bệnh nặng) ra nước ngoài điều trị sẽ có ảnh hưởng không tốt đến phát triển y học trong nước. Để hạn chế tình trạng này, Việt Nam cần nâng cao chất lượng y tế, đặc biệt là phát triển dịch vụ y tế công nghệ cao, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân cũng như của bệnh nhân người nước ngoài. Sự phát triển này sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho việc chăm sóc y tế mà còn giúp các nhà đầu tư nước ngoài tự tin về chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản tại Việt nam để tăng đầu tư và giúp Việt Nam phát triển kinh tế.
 
Phương thức 3 - Sự hiện diện thương mại (commercial presence): Đây là phương thức tác động có tác động quan trọng đến hệ thống y tế của Việt Nam. Thông qua phương thức này, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực bệnh viện, dịch vụ y tế và nha khoa. Việt Nam đã cam kết như sau: Những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ thông qua bệnh viện 100% vốn nước ngoài, liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc qua hợp đồng kinh tế. Mức đầu tư đối tối thiểu là 20 triệu USD/bệnh viện; 2 triệu USD/phòng khám đa khoa và 200.000 USD/phòng khám chuyên khoa.
Về thuận lợi, phương thức này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển hệ thống y tế ngoài công lập, tăng cường phát triển các bệnh viện tư, phòng khám đa khoa và chuyên khoa tư nhân có vốn nước ngoài. Qua đó, góp phần nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ y tế của Việt Nam nói chung, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân. Với sự phát triển của hệ thống y tế tư nhân có vốn nước ngoài, tính cạnh tranh giữa các thành phần của hệ thống y tế sẽ tăng lên, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, phương thức này cũng có một số thách thức mà Việt Nam cần quan tâm như sau:
Tăng sự bất bình đẳng trong việc chăm sóc sức khỏe: Các cơ sở y tế tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài, có chất lượng dịch vụ cao thường thu hút những người khá giả, có khả năng chi trả cao hơn, do vậy đã để lại các bệnh nhân nghèo, khả năng chi trả thấp, mắc bệnh nặng cho hệ thống y tế nhà nước. Điều này sẽ làm tăng sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ chất lượng cao, giữa những người khá giả và người nghèo. Thậm chí nó có thể dẫn đến một hệ thống y tế hai cấp (two-tier health system), một cấp dành cho người khá giả và một cấp dành cho người nghèo. Hơn nữa, các cơ sở y tế có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu được xây dựng ở khu vực thành thị, chứ không có ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Điều này sẽ làm gia tăng khoảng cách giữa nông thôn và thành thị về sự sẵn có cũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng cao.
Ảnh hưởng của viện phí: Viện phí hiện tại ở Việt Nam là một phần so với toàn bộ chi phí cho việc cung cấp dịch vụ chữa trị. Điều này có nghĩa là các dịch vụ y tế nhà nước chủ yếu do Nhà nước bao cấp. Với dự hiện diện thương mại, các bệnh viện tư sẽ tính tổng mức giá, thậm chí với một khoản tăng thêm; do vậy việc xem xét cơ cấu thu phí các dịch vụ phải nên kết hợp tốt với sự hiện diện của các nhà cung cấp nhà nước và tư nhân.
Vai trò điều tiết của Nhà nước: Sự điều tiết của Nhà nước đối với khu vực y tế tư nhân vẫn còn hạn chế. Việc kiểm soát và giám sát sẽ càng khó hơn một khi sự hiện diện thương mại nhiều hơn và lớn hơn, đặc biệt về chất lượng và giá dịch vụ.
Giữ lại các thày thuốc giỏi cho khu vực y tế nhà nước: Với khoản thù lao và mức lương cao hơn mà các cơ sở y tế tư nhân có thể đưa ra, khu vực y tế nhà nước cần có giải pháp để giữ thày thuốc giỏi không chuyển sang làm việc ở khu vực y tế tư nhân phục vụ cho người có điều kiện kinh tế cao hơn.
Phương thức 4 - Hiện diện của con người (presence of natural person): Với phương thức này, nhân viên y tế của Việt Nam có thể ra nước ngoài làm việc và ngược lại, nhân viên y tế của các nước thành viên có thể đến làm việc tại Việt Nam. Ngoài việc tự do lựa chọn nơi làm việc, phù hợp với năng lực, nguyện vọng của từng cá nhân, và hệ thống y tế có thể có thêm những nguồn nhân lực mới từ bên ngoài thì điều quan tâm đối với Việt Nam là vấn đề “chảy máu chất xám”. Kinh nghiệm của các nước cho thấy khi thực hiện cam kết này thì nguồn nhân lực có chất lượng ở các nước thu nhập thấp có xu hướng chuyển sang làm việc ở các nước có thu nhập cao hơn. Điều này sẽ làm tăng sự thiếu hụt nhân viên y tế tại các nước đang phát triển (đặc biệt là nhân viên y tế có trình độ và tay nghề cao), dẫn đến giảm tiếp cận cũng như chất lượng của dịch vụ y tế. Chảy máu chất xám có thể xảy ra theo nhiều cách:
Chảy chất xám ra nước ngoài: Nhân viên y tế có chất lượng cao có thể chuyển tới làm việc tại những nước có thu nhập cao hơn. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự thất thoát về khía cạnh đầu tư cho việc đào tạo nhân viên y tế. Tại Nam Phi thất thoát ở việc đầu tư từ số bác sỹ di cư ước tính hàng chục triệu đô la Mỹ.
Chảy chất xám tới khu vực tư nhân: Với sự phát triển cao hơn của các bệnh viện tư cũng như bệnh viện có đầu tư nước ngoài, các nhân viên y tế có chuyên môn và chất lượng sẽ bị thu hút tới làm việc cho các bệnh viện đấy vì mức lương cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn.
Chảy chất xám tới NGOs và các tổ chức quốc tế: Tự do hoá thương mại cao hơn sẽ dẫn tới sự phát triển của NGOs và các tổ chức quốc tế. Khi những tổ chức này tới Việt Nam thông thường họ sẽ thu hút nhân viên có trình độ chuyên môn và biết tiếng Anh.
Chảy chất xám từ khu vực nông thôn đến thành thị: Nếu không có sự điều tiết tốt, tự do hoá thương mại dẫn tới phát triển chất lượng cao hơn ở khu vực thành thị, dẫn đến khoảng cách giữa thành thị và nông thôn gia tăng. Sự phát triển này dẫn đến nhu cầu cao hơn về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn tại khu vực thành thị. Điều này có nghĩa là các cán bộ y tế có trình độ có xu hướng chuyển về khu vực thành phố để làm việc, dẫn đến thiếu nhân lực y tế ở khu vực nông thôn, gia tăng khoảng cách giữa nông thôn và thành thị trong khả năng cung ứng và chất lượng dịch vụ y tế.
Trong hoàn cảnh này, Nhà nước cần có giải pháp phù hợp để chống chảy máu chất xám, đảm bảo tính công bằng trong cung cấp dịch vụ y tế. Một số địa phương đã có thoả thuận trước đào tạo; có chính sách chi trả cao hơn; cấp đất, nhà ở cho cán bộ y tế ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; cải thiện điều kiện làm việc... Song song với việc giữ cán bộ y tế có chuyên môn tốt, cần có các giải pháp để thu hút các chuyên gia giỏi từ nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam, đặc biệt ưu tiên các dịch vụ y tế chất lượng cao. Ngoài ra, Việt Nam cần có chiến lược và kế hoạch đào tạo nhân lực và nhân tài cho ngành y tế; xem xét đến việc xuất khẩu nhân viên y tế, ví dụ cán bộ điều dưỡng.
Tóm lại, tự do hoá thương mại mang lại nhiều cơ hội tốt hệ thống y tế phát triển, trong đó có việc phát triển các cơ sở y tế tư nhân có đầu tư vốn nước ngoài, tăng tính sẵn có của dịch vụ, tăng tính cạnh tranh, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, tăng khả năng tiếp cận của người dân đến các dịch vụ y tế có chất lượng cao... Tuy nhiên, tự do hoá thương mại cũng tạo ra những thách thức mới đối với hệ thống y tế Việt Nam, đặc biệt là vấn đề công bằng trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Nhìn chung, tự do hoá thương mại có xu hướng mang lại nhiều thuận lợi cho người khá giả hơn là người nghèo, dẫn đến gia tăng khoảng cách giữa người khá giả-người nghèo, giữa thành thị- nông thôn... Trước những cơ hội lớn, việc lựa chọn những giải pháp, chính sách phù hợp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống y tế trong tình hình mới, đúng theo định hướng của Đảng và Nhà nước, đó là xây dựng hệ thống Y tế Việt Nam theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển./.
Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung