Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
CHÍNH SÁCH
Khám bệnh cho người nghèo: Kiến nghị những giải pháp  (16/03/2011)
Bảo hiểm y tế (BHYT) cho người nghèo là một chủ trương lớn, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 "về khám, chữa bệnh cho người nghèo" của Thủ tướng Chính phủ đã tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế. Trong thời gian qua, Quyết định 139/2002/QĐ-TTg đã tạo điều kiện rất lớn cho người nghèo trong việc khám chữa bệnh (KCB), góp phần nâng cao sức khỏe cho họ, gián tiếp giúp họ giảm và thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Tiếp theo Quyết định này của Thủ tướng Chính phủ, chủ trương cấp thẻ BHYT cho người nghèo đã được đánh giá là một chủ trương mang tính toàn diện, triệt để và mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần rất lớn vào việc giảm gánh nặng chi phí y tế cho những người nghèo tại tỉnh Khánh Hòa nói riêng và cả nước nói chung.

1. Tình hình Khám chữa bệnh cho người nghèo tỉnh Khánh Hòa trong thời gian qua.

Tỉ lệ hộ nghèo trong cả nước hiện nay khoảng 12,3%, trong khi tại tỉnh Khánh Hòa đang phấn đấu giảm tỉ lệ này vào cuối năm 2010 còn dưới 3,6% theo Nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XV. Chuẩn nghèo của tỉnh theo Nghị quyết 07/2008/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành ngày 22/7/2008 quy định: chuẩn nghèo ở thành thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống, ở khu vực nông thôn là 430.000 đồng và ở khu vực miền núi là 360.000 đồng, cao hơn chuẩn nghèo của Quốc gia (theo thứ tự là 260.000đ, 200.000đ, không quy định miền núi). Trong thời gian qua, ngành y tế Khánh Hòa, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan, đặc biệt là với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh để chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các chế độ khám chữa bệnh cho người nghèo. Ngoài ra, các đợt khám chữa bệnh từ thiện, nhân đạo do chính các đơn vị ngành y tế tổ chức hoặc do các tổ chức từ thiện nhân đạo trong nước và Quốc tế (từ các tổ chức phi chính phủ) cũng đã góp phần rất lớn vào công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người nghèo.

Thống kê từ năm 2007 về kinh phí sử dụng cho KCB người nghèo từ ngân sách nhà nước thông qua BHYT (kể cả kinh phí và thẻ BHYT cho người dân tộc thiểu số) được thể hiện tại bảng  1:


Bảng 1: Tình hình phát hành thẻ BHYT và kinh phí mua thẻ cho người nghèo Khánh Hòa

Năm

2007

2008

2009

6 tháng 2010

Số thẻ BHYT

203.720

135.043

176.996

123.166

Số tiền

16 tỷ 821 tr

15 tỷ 869 tr

47 tỷ 667 tr

54 tỷ 894 tr

Như vậy, rõ ràng ngân sách nhà nước dành cho KCB người nghèo thông qua mua thẻ BHYT đã tăng lên theo từng năm, thể hiện sự quan tâm đặc biệt và kịp thời cho các đối tượng chính sách, trong đó có người nghèo.

Hiện tại, tính đến thời điểm tháng 7/2010, toàn tỉnh Khánh Hòa đã phát hành 123.166 thẻ BHYT cho người nghèo, 32.490 thẻ BHYT cho người cận nghèo và 21.369 thẻ BHYT cho người dân tộc thiểu số đạt 100% hộ nghèo, cận nghèo và dân tộc thiểu số do Sở Lao động – thương binh – xã hội đề xuất đã được cấp thẻ BHYT. Tuy nhiên, từ khi Luật Bảo hiểm Y tế ra đời và có hiệu lực từ ngày 1/7/2009, tình hình người nghèo khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập có xu hướng giảm vì theo Luật BHYT, người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn phải cùng chi trả 5% chi phí khám chữa bệnh BHYT. Nhận thức được khó khăn này của người nghèo, ngày 15/12/2009, Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Nghị quyết số 26/2009/NQ-HĐND về việc hỗ trợ 5% chi phí khám, chữa bệnh cho các đối tượng thuộc hộ gia đình nghèo; đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Đây là một Nghị quyết hợp lòng dân, giúp người nghèo tiếp tục được tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ y tế.

2. Tình hình chi phí KCB tại các cơ sở y tế tỉnh Khánh Hòa.

Thống kê từ năm 2007 đến nay, chi phí KCB bình quân tại tỉnh Khánh Hòa phân theo hình thức và theo phân tuyến như sau (bảng 2):

Như vậy, chi phí điều trị bình quân tại tuyến tỉnh cao hơn rất nhiều so với tuyến huyện và xã, đồng nghĩa với việc khi tăng cường chẩn đoán sớm, điều trị sớm thì chi phí KCB sẽ giảm đáng kể.

Bảng 2: Chi phí điều trị bình quân theo tuyến điều trị và hình thức điều trị

Năm

2007

2008

2009

Tuyến huyện (đồng)

- Trung bình chi phí cho 1 lần khám bệnh tại BV huyện

26.524

29.547

37.993

- Trung bình chi phí cho 1 đợt ĐT nội trú tại Bệnh viện huyện

335.821

302.139

323.222

- Trung bình chi phí cho 1 lần khám tại trạm y tế xã

12.000

20.000

24.500

Bệnh viện đa khoa tỉnh (đồng)

- Trung bình chi phí cho 1 lần khám bệnh

103.000

145.000

209.000

- Trung bình chi phí cho 1 đợt ĐT nội trú

2.004.000

2.042.000

2.900.000

Tuy nhiên, thống kê trên chưa thể hiện các chi phí khác mà chính những chi phí này không được nhà nước hỗ trợ, người nghèo phải chi trả và chính đó là cản trở lớn nhất đối với người nghèo khi tiếp cận với dịch vụ KCB. Đó là các chi phí đi lại, chi phí cho người nhà theo chăm người bệnh, chi phí ăn uống, chi phí do mất ngày công lao động của người bệnh và người nhà. Những chi phí này không thể tính toán cụ thể, do đó khó mà có thể trợ giúp cho họ. Nhiều khi những chi phí này đã đẩy những người chưa nghèo hoặc cận nghèo trở thành người nghèo sau một đợt điều trị bệnh.

3. Các kiến nghị về giải pháp nâng cao chất lượng KCB cho người nghèo.

Để có thể nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cho người nghèo, những giải pháp sau đây cần được thực hiện một cách đồng bộ và khẩn trương.

Một là, cần phải thực hiện triệt để việc cấp thẻ BHYT cho 100% người nghèo; đồng thời các cơ quan hữu quan, đặc biệt là Sở Lao động – thương binh – xã hội cần theo dõi và phối hợp chặt chẽ với UBND các địa phương để xác định các hộ cận nghèo nhằm kịp thời đề xuất cấp thẻ BHYT cho những hộ này. Đây là công tác rất quan trọng, giúp cho những hộ cận nghèo giảm chi phí y tế, tức là trực tiếp giảm nguy cơ trở thành hộ nghèo.

Hai là, đối với hộ nghèo, cần xem xét lại quy định cùng chi trả 5% chi phí BHYT theo hướng giảm hoặc bỏ hẳn tỉ lệ cùng chi trả BHYT. Việc quy định cùng chi trả 5% nhằm mục đích tránh lạm dụng BHYT. Tuy nhiên, đối với người nghèo, 5% chi phí đã là một số tiền không phải nhỏ, nhiều khi vượt quá khả năng của họ, nhất là vào những thời điểm khó khăn như giáp hạt, thiên tai lũ lụt, hạn hán… Điều này đã trở thành rào cản khi tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo.

Ba là, nhằm làm giảm gánh nặng chi phí cho Quỹ BHYT ngày càng khó khăn, đồng thời bù đắp khoảng 5% của người nghèo như đã nói trên, có thể tính đến giải pháp tăng mức đóng BHYT cho một số đối tượng có thu nhập ổn định và/hoặc có thu nhập khá. Ví dụ, có thể dựa vào quy định thuế thu nhập để tăng chi phí đóng BHYT của những đối tượng có thu nhập cao phát sinh thuế thu nhập.

Bốn là, cần phải sửa đổi chế độ thu viện phí hiện nay tại các bệnh viện để thu đúng, thu đủ chi phí viện phí, tạo nguồn thu cho Bệnh viện để phục vụ tốt hơn cho đối tượng BHYT mà quan trọng hơn hết là tạo một nguồn Quỹ dự phòng để điều trị cho những người gặp khó khăn đột xuất, khi bị hoạn nạn, thiên tai, mất mùa, hạn hán… Chính những đối tượng này là những đối tượng rất dễ bị tổn hại sức khỏe, nếu không được khám chữa bệnh miễn phí sẽ trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội và nguy cơ trở thành hộ nghèo là không tránh khỏi khi ốm đau, bệnh tật. Chính từ giải pháp này mà cần phải có những quy định cụ thể về việc thành lập Quỹ dự phòng khám chữa bệnh tại các Bệnh viện để trợ giúp cho những đối tượng nêu trên.

Năm là, cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào hệ thống y tế, cả hệ điều trị lẫn dự phòng, nhằm nâng cao chất lượng phòng bệnh, cải tiến công tác khám chữa bệnh, cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân và người sử dụng dịch vụ đối với hệ thống y tế hiện hành. Như trên đã phân tích, chi phí KCB tại tuyến xã và huyện có chi phí thấp hơn nhiều so với tuyến tỉnh. Do đó, việc đầu tư nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, trong đó có hệ thống các trạm y tế xã sẽ giúp giảm đáng kể chi phí y tế, kể cả chi phí đi lại, chi phí mất ngày công lao động v.v… Chắc chắn người nghèo sẽ được chăm sóc tốt hơn, thuận lợi hơn khi cơ sở y tế gần nhà của họ (giảm chi phí đi lại), phòng bệnh tốt hơn (giảm chi phí điều trị), phát hiện bệnh sớm hơn ngay từ tuyến cơ sở (chi phí rẻ hơn), và đỡ mất công lao động hơn khi được điều trị ngoại trú.

Hiện nay, tình trạng quá tải của các Bệnh viện vẫn chưa được giải quyết triệt để. Đề án 1816 của Bộ Y tế "Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh", một chủ trương lớn của ngành y tế thể hiện quyết liệt thực hiện chủ đề "Hướng về y tế cơ sở", đồng thời cũng là một trong những giải pháp quan trọng đóng góp "giảm tải" các bệnh viện tuyến trên đã phần nào giải quyết tình trạng này nhưng chỉ ở một số cơ sở chứ chưa giải quyết triệt để vấn đề quá tải Bệnh viện. Sự kết hợp đề án 1816 với việc nâng cấp cơ sở vật chất và cung cấp trung thiết bị cho các Bệnh viện, tăng cường đào tạo cán bộ cả về chăm sóc sức khỏe ban đầu và y tế chuyên sâu, cải tiến chế độ tiền lương, phụ cấp cho cán bộ y tế, có chế độ quy định bắt buộc, đồng thời thu hút cán bộ y tế đến công tác tại các vùng nông thôn, vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa.

Việc đầu tư cho hệ thống y tế dự phòng là rất cần thiết nhằm giúp bảo vệ người dân nói chung và người nghèo nói riêng tránh dịch bệnh từ ô nhiễm môi trường và các yếu tố gây bệnh khác. Muốn như vậy, ngoài việc đầu tư mạnh mẽ và đồng bộ vào hệ thống y tế dự phòng, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ và thực chất giữa ngành y tế với các ngành có liên quan như Tài nguyên môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương, Quản lý thị trường, Văn hoá - Thể thao và Du lịch v.v… nhằm tạo ra cho người nghèo một môi trường sống trong lành, một hệ thống kiểm soát thực phẩm chặt chẽ, giàu dinh dưỡng và an toàn.

Cuối cùng, nhưng cũng là giải pháp quan trọng nhất, đó là tăng cường mạnh mẽ vai trò của cấp ủy và chính quyền địa phương trong công tác xoá đói, giảm nghèo, trong đó có việc xác định hộ nghèo và cận nghèo, kịp thời đề xuất việc cấp thẻ BHYT cho họ. Đồng thời, cần xác định vai trò của chính quyền cấp xã trong việc xác nhận là những hộ khó khăn đột xuất (thiên tai, hạn hán, tai nạn thảm họa…) trong khi khám chữa bệnh tại các bệnh viện để được miễn viện phí trong quy định quỹ khám chữa bệnh dự phòng như đã nói trên./.

 

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung