Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
CHÍNH SÁCH
Nhận thức về BHYT ở vùng đồng bằng sông Cửu Long - Nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm  (16/03/2011)
Ở Việt Nam BHYT đã được triển khai từ năm 1992, với những nỗ lực của Chính phủ từ việc xây dựng khung chính sách, các hướng dẫn cụ thể trong quá trình thực hiện chương trình BHYT đến việc cung cấp tài chính, tạo điều kiện cho nhóm người thiệt thòi có cơ hội tham gia BHYT. Mặc dù tỷ lệ bao phủ BHYT đã tăng dần qua các năm, với 5,46% dân số vào năm 1993 lên 43,76% dân số vào năm 2008 (1-6), nhưng xét về bản chất BHYT ở Việt Nam hiện nay vẫn do nhà nước bao cấp
 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam BHYT đã được triển khai từ năm 1992, với những nỗ lực của Chính phủ từ việc xây dựng khung chính sách, các hướng dẫn cụ thể trong quá trình thực hiện chương trình BHYT đến việc cung cấp tài chính, tạo điều kiện cho nhóm người thiệt thòi có cơ hội tham gia BHYT. Mặc dù tỷ lệ bao phủ BHYT đã tăng dần qua các năm, với 5,46% dân số vào năm 1993 lên 43,76% dân số vào năm 2008 (1-6), nhưng xét về bản chất BHYT ở Việt Nam hiện nay vẫn do nhà nước bao cấp, vì 71,6% số người tham gia BHYT thuộc đối tượng BHYTNN và BHYTBB, chỉ có 28,4% số người tham gia BHYTTN (5). Điều này cũng phù hợp với một số kết quả nghiên cứu được tiến hành độc lập cho thấy, tỷ lệ tham gia BHYT ở Việt Nam hiện nay còn thấp và thường là sự lựa chọn ngược (7-9). Theo tính toán của Bộ Y tế thì hiện nay nhà nước đang đóng góp 64,5% kinh phí của quỹ BHYT (10). Một số kết quả nghiên cứu bằng nhiều phương pháp khác nhau chỉ ra rằng, ở Việt Nam tuy có chính sách tốt về BHYT, nhưng lại thiếu sự đảm bảo cho thành công của chương trình BHYT, trừ khi hệ thống quản lý đủ linh hoạt để đáp ứng được nhu cầu của người dân (11, 12, 13, 14).

Để chương trình BHYT thành công, cần phải xét dưới cả 02 góc độ, đó là mức độ bao phủ của BHYT và khía cạnh tài chính của BHYT. Xét trên phương diện mức độ bao phủ của BHYT, tỷ lệ bao phủ tăng qua các năm. Tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ tài chính thông qua báo cáo của BHXH Việt Nam và thực tế đối tượng tham gia BHYT ở Việt Nam, điều làm các nhà lập chính sách quan ngại đó là tính bền vững và khả năng duy trì của quỹ BHYT.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với dân số chiếm 21% dân số cả nước, đồng thời là vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, nhưng lại có các chỉ số về y tế thuộc nhóm thấp nếu so sánh với mặt bằng chung của cả nước, mặt khác tỷ lệ tự chi trả trong điều trị và tỷ lệ tự điều trị cao (15).

Tại Việt Nam và ĐBSCL đã có một số nghiên cứu đánh giá việc tham gia BHYT, nhưng đó là những nghiên cứu định lượng, tìm hiểu bề nổi của vấn đề. Đằng sau việc tham gia, sử dụng và hoặc không tham gia, không sử dụng BHYT là rất nhiều nguyên nhân.

Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại hình BHYT được áp dụng cho các nhóm thu nhập khác nhau hay nói một cách khác là các nhóm có điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau. Do đó, nếu coi BHYT như một sản phẩm cần và phải được giới thiệu đến người tiêu dùng, thì nghiên cứu định tính sẽ giúp tìm hiểu nhận thức của các nhóm khách hàng đa dạng về BHYT trước khi quyết định mở rộng BHYT.

Theo hiểu biết của chúng tôi, đây có lẽ là một trong những nghiên cứu định tính đầu tiên ở vùng ĐBSCL tìm hiểu nhận thức về BHYT của các nhóm thu nhập khác nhau. Kết quả của nghiên cứu sẽ đưa ra bằng chứng để giúp các nhà hoạch định chính sách và chính quyền các cấp ở vùng ĐBSCL có những can thiệp kịp thời và hiệu quả trong việc triển khai chương trình BHYT nói chung và BHYTTN nói riêng.

II. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu nhận thức về BHYT của các nhóm có thu nhập, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau ở vùng ĐBSCL.

Trong nghiên cứu này, 10 cuộc thảo luận nhóm (TLN) đã được tiến hành tại thành phố Cần Thơ, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2008. Thời gian của mỗi cuộc TLN từ 60 đến 90 phút. TLN được tiến hành ở bệnh viện và ở cộng đồng, mỗi nơi 5 cuộc. Đối tượng tham gia TLN ở bệnh viện là bệnh nhân hoặc người chăm sóc bệnh nhân. Thành phần của các cuộc TLN gồm những đối tượng có và không có BHYT, với các mức thu nhập khác nhau, có độ tuổi và trình độ khác nhau để đảm bảo thông tin thu được từ nhiều chiều (16, 17).

Để đảm bảo tính khách quan của TLN, không một cán bộ nào của bệnh viện hoặc của địa phương có mặt trong các cuộc TLN. Tất cả các cá nhân tham gia thảo luận nhóm đều được thông báo rõ ràng, cụ thể về mục đích, ý nghĩa và nội dung sẽ thảo luận, đồng thời họ được thông báo rõ có thể từ chối tham gia thảo luận nhóm ngay tại thời điểm tiến hành nghiên cứu. Đã không có thành viên nào từ chối tham gia nghiên cứu, tất cả đều sẵn sàng tham gia và chia sẻ quan điểm của mình.Những nội dung TLN được chuẩn bị và thống nhất trong nhóm nghiên cứu, trước khi tiến hành nghiên cứu. Tất cả các cuộc TLN đều được ghi chép, ghi băng và gỡ băng ngay sau đó. Kết quả TLN được phân tích theo phương pháp phân tích nội dung (content analysis). TLN được thực hiện cho đến khi thông tin thu được là bão hòa.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng “Người dân ở ĐBSCL không sẵn sàng tham gia và sử dụng BHYT trong mọi trường hợp”. Điều này được thể hiện qua 4 nội dung sau: lý do tham gia BHYT, lý do không tham gia BHYT, lý do sử dụng BHYT và lý do để không sử dụng BHYT.

Có 4 lý do chính để tham gia BHYT, đó là: qua kinh nghiệm đã sử dụng BHYT hoặc đã từng phải điều trị nội trú ở bệnh viện, bắt buộc phải tham gia, an toàn về tài chínhnhư một hình thức làm từ thiện. TLN cũng chỉ ra 04 nguyên nhân không tham gia BHYT là: thiếu hiểu biết và thiếu thông tin, do thủ tục phức tạp, quyền lợi hạn chếmệnh giá thẻ BHYT chưa thực sự phù hợp với khả năng tài chính của người dân. Việc sử dụng BHYT được giải thích là do hiểu biết về bệnh tật, tin tưởng vào kết quả điều trị và trình độ của nhân viên y tế, cơ sở điều trị. Người dân không sử dụng BHYT vì thời gian chờ đợi lâu, chi phí đi lại để khám chữa bệnh bằng BHYT rất tốn kém, đôi khi còn đắt hơn chi phí điều trị.

1. Lý do để tham gia BHYT

Qua kinh nghiệm đã sử dụng BHYT hoặc đã từng phải điều trị nội trú ở bệnh viện.

Phần lớn các thành viên tham gia TLN đều cho biết, BHYT đóng vai trò quan trọng trong những trường hợp bệnh nặng hoặc phải điều trị dài ngày ở bệnh viện, cho dù họ thuộc bất kỳ nhóm thu nhập nào và có hay không có thẻ BHYT. Họ ý thức được sự cần thiết của BHYT, vì họ không đủ khả năng để chi trả chi phí điều trị, hoặc họ phải vay mượn hay nợ nần chồng chất sau những đợt điều trị như vậy và hậu quả là họ lại rơi vào cảnh nghèo đói. Một bệnh nhân nữ, trên 70 tuổi, điều trị tại Bệnh viện đa khoa TW Cần Thơ, không có BHYT đã phải thốt lên “Thật là vô cùng khốn khổ khi phải điều trị ở bệnh viện mà không có BHYT”. Trong cuộc TLN tại cộng đồng ở Bến Tre, một thành viên nữ, lớn tuổi có thẻ BHYT đã chia sẻ “Tôi đã chết nếu không có BHYT”. Do đó, họ coi BHYT, như là một phần không thể thiếu được của cuộc sống.

 “Tại vì bây giờ mình sống đâu có đủ, như người nghèo thì ngày nào ăn ngày nấy, khi mình ốm không có nguồn thu vào thì mắc nợ” (Nữ, TLN 9, cộng đồng ở Bến Tre)

Cách đây 4 – 5 năm, gia đình tôi không mấy quan tâm đến BHYT. Tuy nhiên, sau 4 năm sử dụng BHYT, gia đình tôi và tôi thấy rằng, BHYT là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống. Lý do là vì ba tôi bị ốm cách đây mấy năm. Nếu khi đó, chúng tôi không mua BHYT, chúng tôi phải trả 7 – 8 triệu để điều trị cho ba tôi, khoản tiền đó chúng tôi không thể có được. Nhờ có BHYT đã giúp gia đình tôi vượt qua giai đoạn khó khăn đó, vì vậy BHYT từ đó gắn liền với gia đình tôi như máu thịt vậy” (Nam trung niên, có BHYT, TLN 5, nhóm cộng đồng ở Đồng Tháp).

Bắt buộc phải tham gia

Tại thời điểm chúng tôi tiến hành nghiên cứu này, BHYT ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau: BHYTBB, BHYTTN, BHYT miền phí. Một điều hiển nhiên là, những người tham gia BHYTBB hoặc nhận BHYT miễn phí, gần như không có động cơ hay lý do gì để tham gia. Họ tham gia, đơn giản chỉ vì đó là BHYTBB.

Tôi không mua, đây là BHYT bắt buộc mà” (Nam thanh niên, có BHYTBB, TLN 2, tại BV ĐK TW Cần Thơ).

Chính quyền địa phương cấp thẻ BHYT cho tôi, nhưng tôi cũng không biết đó là loại BHYT gì” (Nam trung niên, có BHYTBB, TLN 3, nhóm cộng đồng ở Sóc Trăng).

An toàn về khía cạnh tài chính

Rất nhiều thành viên tham gia TLN nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như vai trò của hệ thống BHYT. Trong trường hợp này, người dân tham gia BHYT với mong muốn được bảo vệ trong các trường hợp chi phí điều trị tốn kém, hoặc bệnh nặng hay đau ốm đột xuất. Khi đó, họ coi BHYT như là “bùa hộ mệnh” hoặc “dự phòng những trường hợp rủi ro, ngoài mong đợi”.

Em thì em mua thẻ bảo hiểm như cái bùa hộ mệnh cho mình thôi. mình giúp cho người khác có hoàn cảnh khó khăn hơn mình chứ không phải mình mua BH để mình đi khám bệnh. (Nam, có BHYT, TLN 5, nhóm cộng đồng ở Đồng Tháp).

Cũng như mình đóng có mấy trăm ngàn, mình ăn rồi thì nhiều khi cũng hết, mình dành tiền ra mình đóng thì mình để đấy, nhiều khi có rủi may gì thì mình đỡ chi phí cái tiền hơn (Nữ, có BHYT, TLN 6, nhóm tại BV Kiên Giang).

Như là hình thức từ thiện

Bên cạnh đó, các thành viên tham gia TLN cũng nhận thức được việc tham gia BHYT như là sự chia sẻ, hỗ trợ đối với cộng đồng, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, khi họ gặp bệnh hiểm nghèo, chi phí điều trị tốn kém thông qua việc tham gia BHYT. Trong trường hợp này, họ tham gia không phải với mục đích mang lại quyền lợi cho bản thân họ. Họ coi đó như là việc làm từ thiện, hoặc ít nhất, nó cũng làm cho họ yên tâm hơn.

Nói thật thì chẳng ai mong dùng thẻ BHYT, mà có mua cũng không phải vì lúc nào mình cũng ốm và cũng mong không bao giờ dùng đến nó, nhưng có nó thì cũng cảm thấy yên tâm hơn, vì nhìn thấy hàng xóm đi viện hoài, ớn quá. Hơn nữa mua BHYT là để giúp người bệnh tật, khó khăn hơn mình đó, cũng an ủi như làm từ thiện vậy, chứ có phải mình mua là mình mong dùng hết đâu. Vừa phòng thân vừa làm từ thiện mà” (Nữ, trung niên, có BHYT, TLN 1, nhóm cộng đồng tại TP. Cần Thơ).

Tôi mua BHYT với mục đích để giúp những người nghèo khổ hơn mình, chứ không phải mua cho tôi. Kể từ khi tôi mua thẻ đã 3 - 4 năm nay, nhưng tôi chưa hề dùng thẻ bao giờ, vì tôi nghĩ nó sẽ giúp tôi nếu chẳng may tôi có bị ốm” (Nam, có BHYT, TLN 5, nhóm cộng đồng tại tỉnh Đồng Tháp).

2. Lý do không tham gia BHYT

Có 04 lý do chính để người dân không tham gia BHYT: thiếu hiểu biết và thiếu thông tin, do thủ tục phức tạp, quyền lợi hạn chế và mệnh giá thẻ BHYT chưa thực sự phù hợp với khả năng tài chính của người dân.

 

Thiếu hiểu biết và thiếu thông tin

Thiếu hiểu biết và thông tin không đầy đủ là nguyên nhân dẫn đến sự nhận thức nghèo nàn về mục đích và chức năng của BHYT, chính điều đó làm cho người ta từ chối không muốn tham gia BHYT. Đây cũng chính là vấn đề được thảo luận khá sôi nổi ở tất cả các cuộc TLN.

Tôi không có nghe về BHYT, nên chưa mua (Nam trung niên, không có BHYT, TLN 8, nhóm bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau).

Chú cũng rất muốn mua BHYT cho cô và cho chú à, nhưng chú không biết phải mua ở đâu” (Nam 65 tuổi, không BHYT, TLN 1, nhóm cộng đồng tại TP. Cần Thơ).

Không có ai nói với tôi phải mua BHYT như thế nào, nếu tôi biết tôi cũng mua” (Nữ, không BHYT, TLN 10, nhóm bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bến Tre).

Đa số các thành viên tham gia TLN đều bày tỏ mong muốn cần có sự giải thích rõ ràng hơn và kỹ càng hơn về BHYT để giúp họ hiểu được các quyền lợi khi tham gia BHYT. Các cơ quan BHYT ở tuyến tỉnh, huyện có tổ chức một vài chiến dịch truyền thông, tuyên truyền, vận động về BHYT, nhưng rồi sau đó, dân không thể tiếp cận được với cơ quan BHYT ở địa phương. Họ không biết họ có thể mua BHYT ở đâu, ngay cả khi họ có thông tin về BHYT. “Đại lý BH đôi khi cung cấp không đầy đủ thông tin cho chúng tôi” (Nam, TLN 8, nhóm bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau).

Thông tin về BHYT được phát trên đài phát thanh nhiều lần, vì thế dân cũng muốn mua BHYT, nhưng không một ai giải thích rõ ràng, cặn kẽ về quyền lợi của BHYT. Dân muốn sự giải thích rõ ràng hơn, vì chúng tôi đi làm suốt ngày, nên không có thời gian để nghe đài” (Nữ, TLN 4, nhóm bệnh nhân ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng).

Thủ tục phức tạp

Kết quả TLN cũng chỉ ra rằng, thủ tục không hợp lý và rất phức tạp, bắt đầu từ khâu đăng ký, chuyển tuyến, khám bệnh, điều trị và cuối cùng là thủ tục thanh toán, đã làm cho người dân không hài lòng nên không muốn tham gia BHYT. Thậm chí, khi đã có thẻ BHYT họ cũng không muốn sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh.

Tóm lại, thủ tục là khâu rất quan trọng. Nếu mà thủ tục đơn giản hơn, thì nhiều người đã tham gia” (Nam, lớn tuổi, TLN 7, nhóm cộng đồng tại Cà Mau).

Các thành viên tham gia TLN cũng dành nhiều thời gian để thảo luận về tính bất hợp lý của thủ tục đăng ký BHYT, đó là người tham gia BHYT bắt buộc phải đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu. Việc đăng ký này thực sự khó và không khả thi đối với đại đa số người tham gia BHYT. “Theo quy định của BHYT, nếu anh mua BHYT, anh phải đăng ký cơ sở KCB ban đầu. Nếu anh có vấn đề gì về sức khỏe, đầu tiên anh phải đến đó để khám. Nếu là người nghèo, nó rất phiền phức, vì phải trả thêm tiền đi lại và chi phí ăn uống khi đi KCB” (Nam, TLN 7, nhóm cộng đồng ở Cà Mau).

Thủ tục chuyển viện cũng tương tự như vậy, không thuận tiện, phiền phức và tốn kém thời gian. “Bệnh nhân đăng ký ở tuyến dưới, sau đó được chuyển lên tuyến trên để điều trị. Lần sau, bệnh nhân đến tuyến trên để khám lại, bác sĩ yêu cầu quay về tuyến dưới để lấy giấy chuyển viện. Quá phức tạp, mất thời gian và tốn kém” (Nữ, TLN 6, nhóm bệnh nhân ở Bệnh viện đa khoa Kiên Giang)

Thêm vào đó, là phương thức thanh toán khi mua thẻ cũng bị phàn nàn. BHXH bán thẻ BHYT một lần duy nhất trong năm, chỉ trong 2 đến 3 ngày thông qua các đại lý BH ở địa phương. Vì thế, nếu một hộ gia đình có 5 thành viên, cần phải trả ngay 1 lần 1,5 triệu đồng. Điều đó là quá khả năng của họ. Do đó, họ mong muốn được mua BHYT trả góp.

Phải trả 320.000 đồng cho một người và mua cho cả 5 người một lúc, do đó, nhà tôi không thể mua được, vì tôi chỉ kiếm đủ ăn từng ngày thôi ” (Nam, TLN 1 và TLN 9, nhóm cộng đồng ở TP. Cần Thơ và tỉnh Bến Tre).

Hạn chế về quyền lợi

Một trong những rào cản chính cho việc mở rộng BHYT, đó chính là gói quyền lợi. Quyền lợi mà người dân được hưởng từ BH quá thấp so với mong muốn của họ. Họ cho rằng, phần được BHXH thanh toán khi điều trị rất nhỏ, danh mục thuốc được BH thanh toán bị hạn chế, và tương tự như vậy là hạn chế thanh toán cho các dịch vụ kỹ thuật cao. Nếu xét dưới góc độ chi phí – hiệu quả, thì BHYT không mấy hấp dẫn người tham gia.

Khám ở phòng khám tư tốn có 20.000 đồng. Vì vậy, tôi thấy BHYT chả có giá trị gì cả ” (Nữ, TLN 1, nhóm cộng đồng ở Cần Thơ).

Khi má tôi bệnh, bác sĩ kê toa, bảo tôi ra mua thuốc ở nhà thuốc bên ngoài bệnh viện, vì thuốc trong danh mục của BH không tốt bằng thuốc bán ở ngoài nhà thuốc” (Nữ, TLN 1, nhóm cộng đồng ở TP. Cần Thơ).

Nếu mua BHYT mà không bịnh, thì chỉ có phí tiền. Theo quy định phải mua BHYT ít nhất 3 tháng trước khi sử dụng, khi đó mới được thanh toán. Nếu mua sau khi bịnh 3 tháng, thì coi như chẳng được gì và chả dùng được vào việc gì” (Nữ, TLN 8, nhóm bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau).

Mệnh giá BHYT

Những người tham gia TLN cho rằng, mệnh giá BHYT là cao so với thu nhập và vì vậy họ thiếu tiền để mua BHYT. Tại thời điểm tiến hành TLN, mệnh giá BHYT là 240.000 đồng ở nông thôn và 320.000 đồng ở thành thị, trong khi đó thu nhập bình quân là 200.000 đồng/người/tháng. “Tôi không mua BHYT vì tôi không có tiền” (Nữ, TLN 10, nhóm bệnh nhân tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Bến Tre).

Tôi cũng muốn mua BHYT, nhưng tôi không có tiền, nên không thể mua được” (Nam, TLN 5, nhóm cộng đồng tại Đồng Tháp).

3. Lý do để sử dụng BHYT

Hiểu biết về bệnh tật

Một trong những lý do chính để sử dụng BHYT, đó là vì người ta đã biết rất rõ về tình hình bệnh tật của bản thân hoặc của người thân. Họ biết rõ mức độ nguy hiểm của bệnh, biết bệnh phải điều trị ở đâu và tốn kém như thế nào. Thông thường là các bệnh mãn tính, cần điều trị lâu dài, hoặc sau một thời gian tự điều trị hay đi bác sĩ tư mà không tiến triển hoặc không thuyên giảm. Tôi có BHYT nhưng tôi không dùng thường xuyên, tôi chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng phải điều trị thôi, vì nếu cảm sốt, nóng lạnh thường thường thì tiền xe đi khám bệnh mất cả trăm ngàn đồng, trong khi đó được Bs kê toa thuốc mấy chục ngàn à” (Nam, TLN 3 và TLN 7, nhóm công đồng ở Cà Mau và Sóc Trăng)

Phải đến bệnh viện nếu bệnh không thuyên giảm sau vài ngày. Bệnh viện là sự lựa chọn tốt nhất” (Nữ, TLN 4, nhóm bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng).

Như con trai tôi bị cảm sốt. Nhưng nó không khỏi sau khi điều trị BS tư. Vì vậy, tôi chỉ đi bác sĩ tư khi bệnh nhẹ, và nếu điều trị tư vài ba ngày mà không khỏi, tôi phải đến bệnh viện công thôi, không gì tốt hơn có nhiều bác sĩ cùng khám, chẩn đoán và điều trị

Đến bệnh viện, chỉ 1- 2 đơn thuốc, tôi khỏi bệnh. Ở nhà, thỉnh thoảng tôi đã phải dùng rất nhiều thuốc, nhưng bệnh không khỏi” (Nữ, TLN 5, nhóm cộng đồng ở Đồng Tháp).

Tin tưởng vào kết quả diều trị và trình độ của bác sĩ

Các thành viên tham gia TLN tin tưởng vào trình độ chuyên môn của các bác sĩ, vì theo họ, nhiều bác sĩ cùng khám và điều trị cho bệnh nhân, như vậy chẩn đoán chắc chắn tốt hơn và sẽ nhanh khỏi bệnh. “Nếu tôi cần phải nằm viện trong thời gian dài, tôi sẽ đến bệnh viện công. Không gì bằng có nhiều bác sĩ cùng khám và điều trị. Ở bệnh viện tư, chỉ có một vài bác sĩ khám và điều trị cho bệnh nhân, điều này không tốt bằng ở bệnh viện công” (Nam, TLN 4, nhóm bệnh nhân tại bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng).

Nhiều thành viên tham gia TLN đều bày tỏ rằng, họ đánh giá cao chất lượng điều trị ở bệnh viện công, cùng với trình độ chuyên môn, thái độ và hành vi của bác sĩ.

Nhìn chung, y đức và thái độ của bác sĩ ở đây rất tốt” (Nam, TLN 7, nhóm bệnh nhân ở Bệnh viện đa khoa Cà Mau).

Cơ sở điều trị

Một trong những vấn đề quan trọng khác được thảo luận sôi nổi, đó là việc điều trị tại các bệnh viện công lập, với chi phí không tốn kém và ngay cả khi họ không có tiền để thanh toán mọi chi phí, đặc biệt khi bệnh nhân không có BHYT. “Khi đến bệnh viện công, con tôi được nhiều bác sĩ khám và kê đơn, không tốn kém, sau đó nó khỏi bệnh

Chúng tôi đến bệnh viện được điều trị tốt và chỉ có bệnh viện công mới cho chúng tôi được như vậy”.

4. Lý do để từ chối sử dụng dịch vụ của BHYT

Tuy nhiên, kết quả TLN cũng cho thấy, có 2 lý do chính để người có thẻ BHYT không sử dụng thẻ khi đi khám chữa bệnh, đó là thời gian chờ đợi lâuchi phí đi lại tốn kém.

Thời gian chờ đợi lâu

Thời gian chờ đợi lâu khi khám và điều trị là một trong những vấn đề bức xúc nhất. Người ta phàn nàn về tình trạng thường xuyên quá tải và quá đông tại các bệnh viện công. Do đó, người khám, chữa bệnh bằng BHYT phải mất rất nhiều thời gian để chờ, xếp hàng để đến lượt khám, kê đơn, điều trị; vì thế họ mất cả ngày mà không làm được việc gì khác. Điều này có thể giải thích cho tỷ lệ sử dụng BHYT hiện còn thấp.

  bệnh viện đông lắm, nên phải mất nhiều thời gian để xếp hàng đợi, rồi mới đến lượt mình được khám, phải mất cả ngày làm việc. Nên tôi chỉ đến bệnh viện khi phải cấp cứu thôi. Còn cảm sốt, nóng lạnh bình thường, tôi không đến bệnh viện làm gì, rất tốn thời gian chờ đợi vì lúc  nào cũng đông” (Nam và Nữ, TLN 7, nhóm cộng đồng ở Cà Mau).

Hàng ngày rất nhiều người đến đây (bệnh viện công) để khám bệnh, vì thế phải chờ rất lâu mới đến lượt tôi. Tôi chỉ đến bệnh viện khi phải cấp cứu thôi, khi bệnh nhẹ, tôi không đến bệnh viện. Chờ lâu và đông người lắm” (Nữ, TLN 4, nhóm bệnh nhân ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng).

Không khám bằng BHYT, tôi có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian, vì BHYT phức tạp lắm. Có khi mất cả ngày chỉ để khám bệnh, mà tôi chẳng làm được việc gì cả. Đó là lý do tại sao tôi không dùng BHYT mặc dù tôi đã mua BHYT” (Nữ, TLN 1, nhóm cộng đồng tại TP. Cần Thơ).

Chi phí đi lại: Một trong những rào cản khác, đó chính là chi phí đi lại.

“Tôi có BHYT nhưng tôi không dùng thường xuyên, tôi chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng phải điều trị, vì nếu cảm sốt, nóng lạnh thường thường thì tiền xe đi khám bệnh mất cả trăm ngàn đồng, trong khi đó được Bs kê đơn thuốc mấy chục ngàn à” (Nam – TLN 7 và TLN 3, nhóm cộng đồng ở Cà Mau và Sóc Trăng).

Đối với hộ nghèo, nó phiền phức lắm, vì người nghèo phải trả thêm tiền đi lại và tiền ăn nữa chứ” (Nam, TLN 7, nhóm cộng đồng ở Cà Mau).

 

IV. BÀN LUẬN – KẾT LUẬN

Kết quả TLN ở vùng ĐBSCL đã chỉ ra sự khác biệt về việc thực hiện BHYT giữa Việt Nam và một số nước thu nhập thấp ở Châu Phi, hoặc một số vùng của Ấn Độ (18), mà điểm khác biệt đầu tiên đó là nhận thức của người dân về BHYT, tiếp đó là sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ để người dân có điều kiện tham gia chương trình BHYT. Sự hài lòng của nhóm nghèo và nhóm thu nhập thấp trong việc sử dụng BHYT và dịch vụ y tế đã phần nào nói lên sự thành công trong chính sách bảo vệ người nghèo, người có thu nhập dưới trung bình, những nhóm dễ bị tổn thương khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo và bệnh tật.

Một số nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cho rằng, việc thiếu thông tin về BHYT là vấn đề quan trọng và người dân không hào hứng với việc tham gia BHYT (19), tuy nhiên kết quả TLN của nghiên cứu này cho thấy việc thiếu thông tin chỉ là một trong những nguyên nhân khiến người ta không hoặc khó tiếp cận với BHYT, chứ không phải là nguyên nhân chính. Điều này cũng phù hợp với kết quả của điều tra hộ gia đình trong khuôn khổ cuộc Khảo sát mức sống 2006 (20) do Tổng cục Thống kê tiến hành và kết quả điều tra ban đầu của Dự án Hỗ trợ Y tế vùng ĐBSCL (21). Kết quả TLN cho thấy, có 4 nguyên nhân cơ bản giải thích cho tỷ lệ bao phủ của BHYT còn thấp, đặc biệt là BHYTTN, khoảng trên dưới 12% (5), đó là thiếu hiểu biết và thiếu thông tin, thủ tục phức tạp, hạn chế về quyền lợi và mệnh giá thẻ BHYT chưa thật sự phù hợp.

Đặc biệt, kết quả TLN cho thấy, người dân (ở thành thị) ý thức được sự chia sẻ và ý nghĩa thật sự của BHYT, trong cuộc sống hiện đại khi mà xã hội ngày càng phát triển thì việc được bảo hiểm sẽ giúp con người ta yên tâm hơn và khi mà cuộc sống có quá nhiều nguy cơ thì việc dự phòng rủi ro về tài chính là điều mà nhiều người quan tâm. Kết quả này cũng rất khác biệt so với tính cách người Á Đông thiên về các hình thức tiết kiệm, nhằm sinh lợi cho bản thân. Có thể, nó phản ánh tính cách phóng khoáng của người Nam Bộ.

Dù với bất cứ nhóm thu nhập nào, thì trên một bình diện chung, sự hiểu biết về BHYT ở vùng ĐBSCL là một tín hiệu đáng mừng đối với cơ quan BHYT, vì nếu nhìn lại kết quả của một số nghiên cứu đã tiến hành trước đây sẽ thấy đã có sự khác biệt đáng kể trong quan niệm về BHYT của người dân. (15; 22).

Điều quan trọng là từ sự hiểu biết này, các cơ quan BH cần có các chiến lược phù hợp trong việc mở rộng, duy trì và phát triển BHYT. Mà một trong những vấn đề đó là, cần cải cách và cải tiến thủ tục hành chính, cải thiện chất lượng của gói dịch vụ để tăng cường quyền lợi cho người tham gia BHYT.

Đối với các nhóm đối tượng có thu nhập cao, việc tăng cường chất lượng dịch vụ quan trọng hơn là công tác truyền thông, bởi khi họ chứng kiến chất lượng dịch vụ ở mức độ cao, họ sẽ hài lòng và tự họ sẽ tuyên truyền cho các đối tượng khác. Đối với nhóm này, đa phần trong số họ sẽ tham gia vào chương trình BHYTTN, nhưng khía cạnh tài chính không phải là nhân tố then chốt khi họ quyết định tham gia BHYT (23). Và đây chính là nhóm nòng cốt để duy trì sự bền vững và tính hiệu quả của BHYT, vì BHYTTN sẽ góp phần quan trọng trong việc mang lại sự tiếp cận công bằng khi sử dụng các dịch vụ y tế (24), hơn nữa nếu xét dưới góc độ kinh tế thì nguồn thu của BHYT từ những đối tượng này sẽ mang tính quyết định. Đây chính là điều mà các nhà hoạch định chính sách nên cân nhắc, bởi lẽ với nhóm này, họ sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế tư nhân thay vì sử dụng dịch vụ của BHYT, trong khi đó chất lượng và chi phí của hệ thống y tế tư nhân không tốt hơn và không rẻ hơn nếu so sánh với hệ thống y tế công (25).

Đối với nhóm thu nhập thấp, do họ được sự hỗ trợ về tài chính của nhà nước không chỉ trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ mà còn trong các lĩnh vực khác như được hưởng trợ cấp về nhà ở, về giáo dục, vì vậy, họ tin tưởng tuyệt đối vào dịch vụ công cộng, nên điều quan trọng là làm sao cho họ hiểu về ý nghĩa đích thực của BHYT và họ hiểu cần phải sử dụng thẻ BHYT như thế nào để đảm bảo quyền lợi của chính họ và tăng cường công tác dự phòng chăm sóc sức khoẻ, thay vì chỉ đến khi bệnh nặng họ mới sử dụng các dịch vụ y tế, như vậy sẽ giảm được đáng kể các chi phí của xã hội cho công tác chăm sóc sức khoẻ. Làm tốt công tác này, sẽ phát huy được khả năng dự phòng CSSK của BH.

Có thể nói một cách không quá chủ quan rằng, vấn đề phát triển BHYT của Việt Nam hiện nay không chỉ đơn thuần là tuyên truyền để mở rộng đối tượng tham gia BHYT, mà quan trọng là cần huy động được nguồn lực cho BHYT, mà trong đó BHYTTN đóng một vai trò then chốt. Chỉ có tăng cường chất lượng dịch vụ y tế và chất lượng dịch vụ của cơ quan BHYT mới làm nên tính bền vững của BHYT thông qua việc tăng số thành viên của BHYTTN (24). Hay nói cách khác, BHYTTN chính là thước đo chất lượng và sức hấp dẫn của BHYT. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách hoặc đưa ra các quyết định khi mở rộng các hình thức BHYT hoặc tăng cường nguồn lực tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia BHYT cần phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân đồng thời với việc nâng cao năng lực của cơ quan BHYT.

Các nước có thu nhập thấp và trung bình hiện đang gặp phải khó khăn khi mở rộng BHYT, đó là nhóm người nghèo, người có thu nhập dưới trung bình, không có khả năng tài chính để tham gia BHYT, do đó tỷ lệ bao phủ BHYT ở những khu vực này là khá thấp. Từ bài học thực tế của những nước đã và đang thực hiện BHYT chỉ ra rằng, muốn phát triển BHYT bền vững cần phải cân đối được giữa 2 mục tiêu, đó là khả năng bảo vệ người tham gia BHYT trước các rủi ro của bệnh tật và đói nghèo; đồng thời là khả năng duy trì sự bền vững, ổn định của quỹ để đảm bảo thực hiện được mục tiêu thứ nhất. Vấn đề của Việt Nam hiện nay chính là sự mất cân đối giữa 2 mục tiêu đó của BHYT.

Việc huy động sự tham gia của hệ thống y tế tư nhân trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân thông qua BHYT là vấn đề cần phải được tiến hành càng sớm càng tốt, qua đó tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với hệ thống y tế tư nhân, đặc biệt là quản lý chất lượng dịch vụ của hệ thống y tế tư nhân và như vậy sẽ gián tiếp giảm sự quá tải ở các cơ sở y tế công lập; nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và chất lượng dịch vụ điều trị.

Nhận xét về chất lượng điều trị của cơ sở y tế công lập, phần lớn những người tham gia thảo luận nhóm đều nhất trí rằng, họ đánh giá cao trình độ chuyên môn và kết quả điều trị của khu vực y tế nhà nước, và khi cần phải điều trị nội trú họ đều lựa chọn cơ sở y tế công lập, điều này cũng phù hợp với kết quả Khảo sát mức sống 2006. Họ tin tưởng rằng khu vực nhà nước với đội ngũ bác sĩ được đào tạo chính quy, và trang thiết bị hiện đại sẽ tốt hơn hẳn khu vực tư nhân với trang thiết bị khá khiêm tốn. Và điều quan trọng, đối với nhóm người nghèo và nhóm thu nhập dưới trung bình, họ có thể được điều trị ở bệnh viện nhà nước ngay cả trong trường hợp họ không có tiền chi trả cho các chi phí khám chữa bệnh, đồng thời cũng không có thẻ BHYT, tức là không có trường hợp nào bị từ chối điều trị ngay cả khi không có tiền chi trả và không có BHYT. Chính sự hỗ trợ của nhà nước trong lúc người bệnh khó khăn, đã tạo cho họ lòng tin vào hệ thống y tế nhà nước. Điều này cũng khá dễ hiểu, vì hiện nay tại khu vực ĐBSCL, hệ thống y tế nhà nước đang đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ y tế, mặt khác kết quả từ một nghiên cứu so sánh chất lượng dịch vụ giữa 02 hệ thống y tế công và tư, cho thấy rằng, hệ thống y tế tư nhân ở Việt Nam đang ở dưới chuẩn theo quy định của Nhà nước và chi phí không thấp hơn hệ thống y tế công (23).

Vấn đề cuối cùng là bài toán kinh tế, với đại đa số dân chúng Việt Nam thì việc đóng BHYT với mức đóng 240.000 đồng hoặc 320.000 đồng ở nông thôn và thành thị là khá cao, trong bối cảnh phải đóng cho cả hộ gia đình, vì vậy, phương án đóng trả góp có thể khả thi hơn. Tuy nhiên, xét dưới góc độ cơ quan kinh doanh việc trả góp với nông dân, những người có thu nhập không ổn định là một rủi ro lớn.

Bên cạnh đó, kết quả của tất cả các cuộc thảo luận nhóm ở đồng bằng sông Cửu Long đều phản ánh về việc quá tải ở các bệnh viện tuyến tỉnh. Một trong những nguyên nhân gây quá tải ở các bệnh viện tuyến tỉnh, đó là do cơ chế của BHYT với quy định đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu là các bệnh viện, có nghĩa là sự quá tải ở đây chưa chắc đã thực sự cần thiết, mặc dù theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có một nghiên cứu hay điều tra nào về tỷ lệ những bệnh thông thường không nhất thiết phải điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh nhưng lại được điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh ở vùng ĐBSCL, tức là các trường hợp điều trị vượt tuyến. Thông qua thảo luận nhóm, người dân cũng bày tỏ nguyện vọng được khám chữa bệnh thông thường ở những cơ sở gần nhất, đó chính là các trạm y tế, là những nơi mà họ có điều kiện tiếp cận nhanh nhất và thuận tiện nhất khi có bệnh hoặc khi cần phải sử dụng dịch vụ y tế. Điều này sẽ góp phần giảm sự quá tải không cần thiết ở các bệnh viện. Một trong những lý do để họ từ chối sử dụng dịch vụ y tế cho những lần khám chữa bệnh thông thường hoặc điều trị ngoại trú, đó là chi phí đi lại để khám chữa bệnh nhiều khi lớn hơn quyền lợi mà họ nhận được khi sử dụng dịch vụ của BHYT, thậm chí trong một số trường hợp nếu so sánh chi phí đi lại với chi phí tự điều trị và tự chi trả, thì tự chi trả cũng sẽ vẫn tiết kiệm hơn chi phí đi lại để được khám chữa bệnh ở đúng cơ sở y tế họ đăng ký sử dụng dịch vụ BHYT. Điều này có lẽ góp phần giải thích lý do tại sao tỷ lệ tự điều trị và tự chi trả ở Việt Nam thuộc vào nhóm cao nhất trong các nước đang phát triển (26)

V. KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC NHÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH

Một số khuyến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách để đảm bảo duy trì sự bền vững và phát triển của BHYT Việt Nam, nhóm nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị chính như sau: (1) Cần tăng cường công tác truyền thông đối với nhóm đối tượng có thu nhập thấp và thu nhập dưới trung bình nhằm nâng cao sự hiểu biết của nhóm này về quyền lợi và cách sử dụng BHYT; (2) Mở rộng đối tượng tham gia BHYTTN thông qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và dịch vụ BHYT gắn với chi phí hợp lý và hiệu quả; (3) Tăng cường vai trò của y tế tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ y tế thông qua BHYT và (4) trong quá trình phát triển BHYT bền vững cần phải cân đối được giữa 2 mục tiêu, đó là khả năng bảo vệ người tham gia BHYT trước các rủi ro của bệnh tật và đói nghèo; đồng thời là khả năng duy trì sự bền vững, ổn định của quỹ để đảm bảo thực hiện được mục tiêu thứ nhất. Vấn đề của Việt Nam hiện nay chính là sự mất cân đối giữa 2 mục tiêu đó của BHYT.

 


Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung