Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Cải cách kinh tế và y tế - bài học từ Trung Quốc  (03/03/2010)
Kinh nghiệm gần đây của Trung Quốc giúp trả lời một câu hỏi toàn cầu: Phát triển kinh tế có nhất thiết sẽ cải thiện tình trạng sức khoẻ, dinh dưỡng và công tác chăm sóc sức khoẻ hay không?

Vào cuối những năm 50, khi còn là một quốc gia rất nghèo, Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống y tế mới. Cộng đồng làng xã hoặc thị trấn vận động kinh phí từ chính phủ, các hộ gia đình, và các công xã để cấp vốn cho các trạm y tế làng và “bác sĩ thôn bản” để cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản và y tế dự phòng cho hơn 90% dân số. Từ năm 1952 đến năm 1982, tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của Trung Quốc giảm từ 250 xuống còn 40/1000 trẻ đẻ sống, và tỉ lệ mắc bệnh sốt rét giảm từ 5,5% xuống còn 0,3% dân số, và tuổi thọ tằng từ 35 tuổi đến 68 tuổi. Trung Quốc đã bắt đầu cải cách kinh tế vào năm 1979, chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, trong đó sở hữu tư nhân và sức mạnh của thị trường thay thế vai trò kiểm soát của Nhà nước. Cải cách đã thành công trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thu nhập còn lại sau khi nộp thuế theo đầu người tăng 6,1% hằng năm (sau lạm phát) từ năm 1980 đến 1993 – cao hơn 3 lần tỉ lệ này ở Mỹ - đạt 1.308 USD vào năm 1993, sau khi điều chỉnh chênh lệch giá cả hàng hoá và dịch vụ giữa hai quốc gia.

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng này có làm tăng tình trạng sức khoẻ chung và dinh dưỡng của người dân Trung Quốc không? Các lợi ích có được phân bổ bằng nhau giữa các nhóm kinh tế-xã hội không? Trong vấn đề này, bài viết của Shen và các tác giả khác chỉ ra sự tăng trưởng của trẻ em Trung Quốc (được đo bằng chiều cao theo tuổi) đã được cải thiện trong thời gian nghiên cứu, nhưng sự cải thiện này không được phân bố đồng đều trên cả nước. Sự khác nhau về các nền tảng phát triển của trẻ em ở nông thôn và thành thị tăng lên cùng với sự chênh lệch về thu nhập tương đối giữa người dân ở nông thôn và người dân ở thành thị.

Từ năm 1979 đến năm 1985, ưu tiên của Trung Quốc là tăng năng suất nông nghiệp và thu nhập của người nông dân bằng cách thay thế hệ thống canh tác hợp tác xã bằng một hệ thống trong đó hộ gia đình canh tác trên diện tích đất được khoán và giữ lại tất cả các khoản thu nhập từ canh tác trên mảnh đất đó. Sau năm 1985, khuyến khích sở hữu và đầu tư tư nhân nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã trở thành ưu tiên – một mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho người dân ở thành thị. Vào năm 1980, thu nhập bình quân đầu người sau khi nộp thuế của người dân ở thành thị cao hơn 3,1 lần so với người dân ở nông thôn. Tỉ lê này đã giảm xuống còn 2,3 vào năm 1985, nhưng sau đó bắt đầu tăng dần, do đó tỉ lệ này là 3.3 vào cuối năm 1993 (thu nhập còn lại sau khi nộp thuế là 1988 USD ở thành thị so với 608 USD ở nông thôn).5

Trung Quốc đã thiết lập một cơ cấu tổ chức ba cấp để cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Các cấp này bao gồm trạm y tế làng, trung tâm y tế thị trấn, và bệnh viện huyện ở khu vực nông thôn và trạm y tế phố, trung tâm y tế phường, và bệnh viện quận ở khu vực thành thị. Nhân viên của trạm y tế làng là các bác sĩ thôn bản được đào tạo từ 03 đến 06 tháng sau khi học hết phổ thông và trung bình được học bổ túc từ 2 đến 3 tuần trong một năm. Trung tâm y tế thị trấn thường có từ 10 đến 20 giường bệnh do một bác sĩ tốt nghiệp trung cấp y hệ ba năm sau khi học xong trung học giám sát, một y sĩ và một bác sĩ thôn bản trợ giúp. Bệnh viện huyện thường có từ 250 đến 300 giường bệnh và nhân viên là các bác sĩ được đào tạo về chuyên ngành y từ 04 đến 05 năm sau khi tốt nghiệp phổ thông cùng với y tá và kỹ thuật viên.

Trước cải cách kinh tế, hầu hết nguồn thu của các bệnh viện và các trung tâm y tế thị trấn là từ chính phủ, được bổ xung bằng các khoản thanh toán của người bệnh và các chương trình bảo hiểm. Sau cải cách kinh tế, kinh phí của chính phủ bị giảm xuống chỉ để trả lương cơ bản và một số khoản đầu tư cơ bản mới và hiện nay kinh phí này chiếm khoảng 20 đến 25% chi phí của bệnh viện. Bệnh viện và trung tâm y tế thị trấn phải lấy hầu hết nguồn thu cho hoạt động của mình từ người bệnh, mặc dù chỉ khoảng 25% người dân có bảo hiểm y tế. Chính phủ cũng giảm ngân sách cho tiêm chủng và y tế dự phòng để các nhà quản lý các chương trình y tế công cộng phải hỗ trợ các hoạt động này bằng các khoản thanh toán phí dịch vụ. Hiện nay, gần 45% thu nhập của các hoạt động này là từ các khoản thanh toán trực tiếp của người bệnh.6

Chính phủ đặt ra các mức giá mà người cung cấp dịch vụ có thể tính cho người tiêu dùng, và tất cả các mức giá trừ giá của các loại thuốc và dịch vụ công nghệ cao được đặt ở mức thấp hơn chi phí. Do đó, người cung cấp có thể bị thua lỗ khi gặp bệnh nhận, thực hiện phẫu thuật, hoặc cho bệnh nhân nhập viện. Những thua lỗ này phải được bù từ lợi nhuận được tạo ra từ việc chỉ định cho người bệnh các thuốc hoặc các xét mới công nghệ cao. Theo hệ thống mới, bệnh viện, bác sĩ, và các nhà sản xuất đã xây dựng các mối quan hệ hợp tác để mua các thiết bị chẩn đoán mới nhất. Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới, bác sĩ chỉ định quá nhiều thuốc, điều trị tĩnh mạch và các xét nghiệm cận lâm sàng ( không công bố số liệu).

Trước cải cách kinh tế, gần 90% người dân ở nông thôn được bảo phủ bởi hệ thống khám chữa bệnh dựa vào cộng đồng, hệ thống này nhận một phần nguồn thu từ ngân sách phúc lợi của xã. Hệ thống này tổ chức các trạm y tế, trả lương cho bác sĩ thôn bản để chăm sóc sức khoẻ ban đầu, và cung cấp thuốc cho người dân. Hệ thống này cũng được bệnh nhân hoàn trả một phần cho các dịch vụ nhận được ở các cơ sở y tế huyện hoặc thị trấn. Sau khi các xã bị bãi bỏ, chính phủ đã thông qua chính sách tự do kinh doanh, dựa vào các lực lượng tự do trên thị trường để quyết định việc tổ chức, cấp vốn và cung ứng dịch vụ y tế. Do đó, hệ thống khám chữa bệnh dựa vào cộng đồng đã biến mất, và hầu hết bác sĩ thôn bản trở thành những người hành nghề y tư nhân.1 Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế ba cấp vẫn giữ nguyên. Tuy nhiên, ngân sách chính phủ đã giảm xuống, và hiện nay tất cả các nhà cung cấp phải dựa vào các khoản thanh toán của người bệnh và các chương trình bảo hiểm.

Hiện nay, các nhà cung cấp dịch vụ dựa nhiều vào các khoản thanh toán phí dịch vụ, việc này tiếp tục khuyến khích họ chỉ định nhiều các dịch vụ và thuốc mang lại lợi nhuận. Do đó, chi phí y tế tăng cao. Từ năm 1986 đến năm 1993, chi tiêu cho y tế theo đầu người ở Trung Quốc tăng trung bình 11% hằng năm, sau khi điều chỉnh lạm phát, đạt 84 USD vào năm 1993.7

Tiếp cận với y tế chủ yếu dựa vào năng lực thanh toán của người bệnh, và nhiều người không có đủ khả năng tài chính để trả cho các chi phí khám chữa bệnh. Đối với 50% người dân ở nông thôn (420 triệu người), chi phí một lần nằm viện cao hơn thu nhập trung bình hằng năm (không công bố số liệu). Bẩy trường đại học y của Trung Quốc phối hợp trường Đại học Y tế Công cộng Harvard đã tiến hành một nghiên cứu trên 30 huyện được lựa chọn ngẫu nhiên và được xếp là các khu vực nghèo ở Trung Quốc (không công bố số liệu) từ năm 1992 đến năm 1995. Nghiên cứu này phân tích tình hình kinh tế và sức khoẻ của 180 làng và 11.042 hộ gia đình và phát hiện 30% số làng này không có bác sĩ thôn bản; 28% người dân không đi khám chữa bệnh khi bị ốm do họ không có tiền chi trả cho các chi phí; và 51% người dân được người hành nghề y khuyên vào bệnh viện từ chối nhập viện do các chi phí.

Nghiên cứu cũng phát hiện 25% số hộ được khảo sát phải vay tiền để thanh toán chi phí khám chữa bệnh, và khoảng 6% phải bán tài sản của họ. Các phát hiện này cho thấy sự sụp đổ của hệ thống khám chữa bệnh dựa vào cộng đồng và lạm phát nhanh của chi phí y tế đã trở thành các nguyên nhân chính gây ra tình trạng nghèo ở nông thôn Trung Quốc. Hầu hết các hộ gia đình có thu nhập thấp không có bảo hiểm và có thể bị phá sản do chi phí chữa bệnh khi mắc bệnh nghiêm trọng.

Có một số bằng chứng cho thấy tình trạng sức khoẻ của người dân Trung Quốc bị ảnh hưởng xấu bởi cải cách y tế. Tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi không thay đổi kể từ năm 1985, theo một báo cáo của UNICEF, mặc dù tăng trưởng kinh tế nhanh và tỉ lệ người biết chữ tăng8 (không công bố số liệu). Tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh (37 và 41 /1000 trẻ đẻ sống tương ứng ở thành thị và nông thôn của Trung Quốc vào năm 1993) cũng gần như không thay đổi kể từ giữa những năm 80,9,10 và tuổi thọ trung bình thay đổi ít (từ 68 tuổi vào năm 1982 đến 69 tuổi vào năm 1993).9 Việc tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh không được cải thiện dường không phù hợp với phát hiện của Shen và các tác giả khác là chiều cao của trẻ em ngày càng tăng. Một sự giải thích có thể đưa ra là tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp hơn đối với dinh dưỡng, trong khi đó tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và các biện pháp chăm sóc sức khoẻ có liên quan không chỉ phụ thuộc vào thu nhập mà còn phụ thuộc vào cách thức hệ thống y tế được tổ chức và cấp vốn.

Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu thừa nhận các vấn đề gây ra với sức khoẻ do các chính sách kinh tế và y tế của mình, và đang bắt đầu tăng ngân sách cho y tế công cộng. Chính phủ cũng đang thúc đẩy một chính sách thiết lập lại một hệ thống chăm sóc sức khoẻ dựa vào cộng đồng, mặc dù việc tổ chức và quản lý ở địa phương đã được cải thiện. Những nhiều thiệt hại đã xảy ra.

Kinh nghiệm của Trung Quốc đưa ra các bài học cơ bản. Tăng trưởng kinh tế không nhất thiết sẽ mang lại sức khoẻ tốt hơn và sự chăm sóc sức khoẻ tốt hơn cho mọi người dân. Thay vào đó, nó có thể gây ra sự chênh lệch về thu nhập, tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ giữa người giầu và người nghèo. Hệ thống chăm sóc sức khoẻ theo phí dịch vụ trên thị trường tự do có thể gây ra lạm phát nhanh chóng, dựng lên rào cản cho công tác chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho các hộ gia đình có thu nhập thấp hơn, và gây ra tình trạng nghèo đói. Một xã hội không thể dựa vào tăng trưởng kinh tế nhanh để cấp vốn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ hiệu quả trên cơ sở bình đẳng cho tất cả người dân. Khi các chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, họ cũng phải có một chính sách đi kèm phù hợp để phát triển hệ thống y tế./.

Tài liệu tham khảo

  1. Hsiao WC. Transformation of health care in China. N Engl J Med 1984;310:932-936. [Medline]
  1. Hsiao WC. The Chinese health care system: lessons for other nations. Soc Sci Med 1995;41:1047-1055.
  1. Li J. The Chinese economy toward the 21st century. Beijing, China: Enterprise Management Press, 1995.
  1. Shen T, Habicht J-P, Chang Y. Effect of economic reforms on child growth in urban and rural areas of China. N Engl J Med 1996;335:400-406. [Free Full Text]
  1. Study Group on National Income Survey, Chinese National Bureau of Statistics. Income difference between urban and rural residents. Econ Res 1994;12:34-45. (In Chinese.)
  1. Ying W. National health account. Beijing: Chinese National Health Economics Institute, 1996. (In Chinese.)
  1. Du L, Yin W. Health care costs and financing patterns in China, 1970–1993: proceedings of the International Health Care Seminar, Beijing, China, October 8–10, 1995. Beijing: Chinese National Institute of Health Economics, 1995. (In Chinese.)
  1. Parker R. Maternal and child health needs in China: proceedings of the Senior Health Policy Seminar, Chengdu, People's Republic of China, October 1–2, 1992. Beijing: Chinese National Institute of Health Economics, 1993.
  1. Center for Health Statistics Information. A report on the National Health Services Survey in 1993. Beijing, China: Ministry of Health, 1994.
  1. Ministry of Health. Chinese health statistical digest. Beijing, China: Ministry of Health, 1992.

 

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung