Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Dự thảo Báo cáo: Đánh giá thực trạng tình hình y tế cơ sở, những khó khăn thách thức và những giải pháp ở địa phương  (10/06/2013)
Tuyến y tế cơ sở (gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo.Trong những năm qua, bên cạnh việc đầu tư, nâng cấp các cơ sở điều trị, phát triển các trung tâm kỹ thuật cao, ngành Y tế rất chú trọng đến việc xây dựng, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở và đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
 UBND TỈNH QUẢNG NAM               
         SỞ Y TẾ                                                 

                                            Quảng Nam, ngày      tháng 4 năm 2013

 

DỰ THẢO

BÁO CÁO

Đánh giá thực trạng tình hình y tế cơ sở, những khó khăn thách thức và những giải pháp ở địa phương

 
 

 

Tuyến y tế cơ sở (gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo.Trong những năm qua, bên cạnh việc đầu tư, nâng cấp các cơ sở điều trị, phát triển các trung tâm kỹ thuật cao, ngành Y tế rất chú trọng đến việc xây dựng, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, mạng lưới y tế cơ sở (MLYTCS) vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập chưa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân tại địa bàn. Nhằm đạt được mục tiêu: (1)Phát triển hệ thống y tế theo hướng công bằng - hiệu quả, kết hợp phát triển hài hòa giữa y tế chuyên sâu với y tế phổ cập; giữa phòng bệnh với chữa bệnh; giữa y học cổ truyền với y học hiện đại (2)Phát triển cơ sở cung cấp dịch vụ y tế theo địa bàn dân cư nhằm tạo cơ hội cho mọi người dân được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe với chất lượng ngày càng cao ngay từ tuyến cơ sở; ngành Y tế Quảng Nam đánh giá lại thực trạng hệ thống y tế cơ sở và kiến nghị các giải pháp nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở.

I. Thực trạng hệ thống y tế cơ sở :

1.Tổ chức mạng lưới y tế cơ sở:

Thực hiện Nghị định số số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ về việc Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thông tư Liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy DS-KHHGĐ ở địa phương; ngành y tế tỉnh Quảng Nam đã tiến hành sắp xếp lại các cơ sở y tế tuyến cơ sở  như sau:

 1.1.Tuyến huyện, thành phố:

 - Trực thuộc Sở Y tế:

+ 19 đơn vị y tế : 18 TTYT (14 TTYT  thực hiện hai chức năng YTDP, KCB; 04 TTYT thực hiện 1chức năng YTDP) và 01 BVĐK thành phố. 

+ 18 Trung tâm DS-KHHGĐ huyện, thành phố.

           - Trực thuộc UBND huyện, thành phố: có 18 Phòng Y tế . 

  1.2. Tuyến xã, phường, thị trấn: 

9 Phòng khám ĐKKV trực thuộc TTYT hoặc BVĐK huyện/thành phố và 244 TYT xã/244 xã, phường, thị trấn. Mạng lưới y tế thôn, bản: Có 1.807 NVYT thôn bản đang hoạt động tại 1.729 thôn, bản trong toàn tỉnh; đạt tỉ lệ 100% thôn, bản có NVYT thôn bản hoạt động.

2.Thực trạng nhân lực y tế cơ sở:

  Tổng nhân lực y tế toàn tỉnh 5618 trong đó: 

Tuyến YTCS (Tuyến huyện, quận, thị; xã, phường): 2772 chiếm 49% /tổng số CBYT, trong đó có 324 bác sĩ (01TS, 15ThS, 01 BSCKII, 89BSCKI, 218BS) /Tổng số 674 BS chiếm tỉ lệ 48%; 17DSĐH/ Tổng số 61DSĐH chiếm tỉ lệ 27,8%.

  Tổng số nhân lực tại  244 TYT tuyến xã 1.229 người  (trong đó có 48 Bác sĩ; 77 cán bộ dược (trong đó 65 DSTH); 245 y sĩ sản nhi và hộ sinh trung học tại 219 TYT; 111 cán bộ y dược học cổ truyền); 19,7 TYT có BS.

         Nhân viên y tế thôn bản: 1.807 NVYT thôn bản đang hoạt động tại 1729 thôn, trong đó có 1.503 NVYT thôn bản đã qua các lớp đào tạo chuyên môn y tế 3 tháng, đạt tỉ lệ 80,1% NVYT thôn bản đã qua đào tạo theo qui định.

3.Công tác đào tạo, phát triển nhân lực y tế cơ sở:

3.. Đào tạo nhân lực y tế:

Trường Cao đẳng Y tế tỉnh là nơi đào tạo chủ yếu cán bộ y tế có trình độ trung cấp, cao đẳng cho tuyến y tế cơ sở và tuyến tỉnh. Từ năm 2007 - 2012, mỗi niên khóa nhà trường đào tạo từ 20-25 lớp với tổng số sinh viên từ 943 đến 2.490 em.

Đào tạo đại học, sau đại học cũng rất được quan tâm. Từ 2007- 2012, mỗi năm gửi 45-60 CBYT đi đào tạo BS,DSĐH; 25-35 CBYT đi đào tạo sau đại học  trong 6 năm toàn tỉnh đưa đi đào tạo 310 bác sĩ, DSĐH; 189 DS, BS đi đào tạo sau đại học phục vụ cho tuyến y tế cơ sở huyện, xã (trên 80%).

3.2. Nhân viên y tế thôn bản:

Số lượng NVYTTB ngày càng tăng, từ 1.743 người năm 2005 lên 1.807 người năm 2012. NVYTTB được đào tạo theo chương trình của Bộ Y tế chiếm tỉ lệ 80,1%, hàng năm NVYTTB được đào tạo lại qua các chương trình dự án.

 3.3. Đối với y tế xã, phường, thị trấn:

Nhân lực y tế xã, phường, thị trấn luôn được củng cố, phát triển, năm 2002, tổng số CBYT tuyến xã là 842 người/ 222 trạm y tế, trung bình có 3,79 CBYT/ trạm y tế, thì nay số cán bộ y tế xã là 1.229/244 trạm, trung bình có 5

CBYT/trạm y tế  

4. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho y tế cơ sở 

Ngoài sự quan tâm đầu tư của trung ương bằng các chương trình dự án như: xóa xã trắng về y tế, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua các dự án 135 (điện, đường, trường, trạm, chợ), dự án hỗ trợ y tế quốc gia, xây dựng và trang bị các trang thiết bị cho trạm y tế, Dự án đầu tư cho bệnh viện huyện từ nguồn trái phiếu chính phủ (QĐ 47/QĐ-TTg), … các dự án tài trợ như ODA Tây Ban Nha, Hỗ trợ y tế vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, FHF, LIFE-GAP… Tỉnh, huyện, xã cũng đã quan tâm đầu tư nâng cấp cơ sở, vật chất trang thiết bị cho y tế địa phương.

          Vì vậy, đến nay ngoài trang bị thiết bị hiện đại cho các bệnh viện tuyến tỉnh ...các TTYT huyện được xây dựng, nâng cấp và đều có xe cứu thương 2 cầu, máy X quang, huyết học, sinh hóa, một số TTYT huyện được trang bị thiết bị hiện đại như monitoring, X quang kỹ thuật số, siêu âm màu, máy thở… đạt được khoảng 50-70% danh mục trang thiết bị theo phân tuyến kỹ thuật của bộ y tế. Các trạm y tế được trang bị các dụng cụ khám bệnh, sơ cấp cứu, đỡ đẻ, chăm sóc bé, khám phụ khoa và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, một số trạm y tế có bác sĩ được trang bị máy siêu âm, máy đo điện tim…

5.Chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực:

  Ngoài những chủ trương, chính sách của Trung ương; tỉnh QN đã ban hành được hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và thu hút cán bộ có chất lượng cao về công tác tại tỉnh và cơ sở: Quyết định số 42/2008/QĐ-UBND ngày 27/10/2008 Quy định về cơ chế, chính sách và công tác quản lý đối với người  được cử đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài; Quyết định số 11/2008/QĐ-UBND ngày 02/4/2008 Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ luân chuyển và thu hút cán bộ; Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND ngày 22/7/2010 Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; Công văn số 2871/UBND-NC ngày 10/8/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc xét tuyển dụng viên chức ngành y tế không qua thi tuyển đối với sinh viên tốt nghiệp chương trình Đại học Y Dược. Hàng trăm cán bộ y tế, nhất là tuyến huyện, xã, kể cả thôn bản được hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, ở nhiều cấp độ từ sơ cấp đến thạc sĩ với kinh phí hàng tỷ đồng

Chế độ phụ cấp NVYT thôn bản  cũng được cải thiện, từ năm 2009 NVYTTB thuộc vùng khó khăn theo Quyết định 30/2007/QĐ-TTg, từ mức 40.000đ/người/tháng thì được hưởng mức 0,5 lương tối thiểu; tại các xã     miền núi, đồng bằng còn lại được hưởng 0,3 lương tối thiếu. Ngoài ra tỉnh còn hỗ trợ cho NVYTTB tại các vùng mà Chính phủ không có qui định: Tổ dân phố, khối phố, khu phố và thôn thuộc thị trấn miền núi, vùng cao, vùng khó khăn 0,154 lương tối thiểu; các tổ dân phố, khối phố, khu phố thuộc xã, phường thị trấn đồng bằng còn lại 0,92 lương tối thiểu.

Trong số 1.229 cán bộ y tế xã, có 719 (57,15%) cán bộ hợp đồng theo Quyết định 58/TTg chưa phải là viên chức ngành y tế, nhưng vẫn được hưởng lương theo ngạch bậc và các loại phụ cấp, ưu đãi nghề, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp thường trực.. như viên chức y tế.

6. Năng lực giải quyết chuyên môn:

          Toàn tỉnh hiện có có 26 cơ sở KCB tuyến tỉnh, tuyến huyện (chưa kể BVĐKTW Quảng Nam). Trong đó có 2 Bệnh viện Đa khoa khu vực, 14 Trung tâm Y tế thực hiện 2 chức năng, 1 bệnh viện đa khoa thành phố, 09 phòng khám đa khoa khu vực và 244 trạm y tế xã, phường, thị trấn.

           Các TTYT huyện đều đạt chuẩn bệnh viện hạng III, một số thực hiện thành công dịch vụ kỹ thuật của bệnh viện hạng II, như phẫu thuật nội soi, kết hợp xương; ngoài ra, hai bệnh viện đa khoa khu vực hỗ trợ kỹ thuật có hiệu quả cho các TTYT huyện phía Bắc, Tây Bắc của tỉnh. Các phòng  khám đa khoa khu vực đã góp phần tích cực trong việc hỗ trợ dịch vụ cho các trạm y tế và khám chữa bệnh cho người dân.  Các trạm y tế xã đáp ứng được công tác khám chữa bệnh ban đầu, đỡ đẻ thường, một số trạm cung cấp được dịch vụ siêu âm, điện tim…

Việc đào tạo chuyển giao kỹ thuật từ tuyến trên xuống tuyến dưới nhất là cho các huyện, xã miền núi được thực hiện khá tốt góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho đồng bào vùng sâu, vùng xa.          

7.Triển khai thực hiện chuẩn quốc gia về y tế xã:

          Sau khi có quyết định 370/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế, dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh, các huyện, thành phố đã xây dựng đề án, kế hoạch, chỉ đạo các xã, phường, thị trấn  đưa nhiệm vụ, lộ trình thực hiện Chuẩn quốc gia về y tế xã vào nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương đảm bảo điều kiện tối thiểu cho người dân được hưởng các dịch vụ CSSK cơ bản.

          Kết quả đạt chuẩn quốc gia về y tế xã (theo tiêu chí cũ) tăng đáng kể từ 14,97% (34/227 xã) năm 2005 lên 67,62% (165/244 xã) năm 2011.

II.Những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân:

1.Thành tựu:

Trong những năm qua, tổ chức mạng lưới y tế  xã luôn được củng cố, chất lượng hoạt động có nhiều chuyển biến; bộ máy tổ chức y tế ở tuyến huyện  từng  bước phát triển, các chương trình y tế quốc gia được triển khai rộng khắp và đạt hiệu quả đáng khích lệ; công tác đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ y tế cơ sở có những kết quả nhất định; cơ sở vật chất, trang thiết  bị  y tế hiện đại, thiết yếu được đầu tư mua sắm đưa vào sử dụng nên công tác khám chữa bệnh, chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân ngày một tốt hơn nhất là việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thực hiện chuẩn quốc gia về y tế xã luôn được chú trọng và đạt thành quả đáng ghi nhận, đảm bảo điều kiện tối thiểu cho người dân hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản.

2. Những tồn tại, hạn chế:

2.1.Mô hình tổ chức y tế tuyến huyện, xã chưa hợp lý, vẫn còn chồng chéo; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu CSSKND.

2.2.Đội ngũ cán bộ tuyến y tế cơ sở còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, thiếu bác sĩ, thiếu dược sĩ đại học, thiếu cán bộ kỹ thuật y dược có trình độ đại học, thiếu cán bộ y học cổ truyền nhất là ở các huyện có đời sống kinh tế xã hội khó khăn. Tỉ lệ xã có Bác sĩ thấp (19,7%), y tế cơ sở có phát triển nhưng chưa thật sự vững chắc.

2.3.Chưa có chính sách ưu đãi đủ hấp dẫn để thu hút cán bộ y tế về làm việc ở tuyến cơ sở. Mức chi thường xuyên cho y tế cơ sở, đặc biệt các trạm y tế xã thấp không đủ để triển khai tốt các hoạt động chuyên môn được giao. Cán bộ y tế xã hợp đồng theo Quyết định 58/QĐ-TTg không được bổ nhiệm ngạch viên chức, không điều chuyển được từ xã lên huyện hoặc chuyển công tác từ huyện này sang huyện khác, tỉnh nàng sang tỉnh khác, trong khi chức danh dân số tuyến xã lại được tuyển dụng là viên chức nên rất không hợp lý.

          2.4.Mức phụ cấp đối với NVYTTB qui định tại Quyết định 75/2009/QĐ-TTg không áp dụng đối với nhân viên YTTB tại các tổ dân phố thuộc các phường, thị trấn mà do địa phương tự cân đối, vận dụng là chưa thỏa đáng.

2.5.Tuy quan tâm đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị cho tuyến y tế cơ sở, nhưng đến nay cũng chỉ dành phần lớn cho xây dựng cơ bản, phần trang thiết bị còn hạn chế nhất là trang thiết bị y tế tuyến xã còn rất đơn sơ, nghèo nàn, không đồng bộ.

          3.Nguyên nhân: 

          - Mô hình tổ chức hệ thống y tế cơ sở chưa nhất quán và thiếu ổn định. Công tác quản lý nhà nước về các hoạt động liên quan đến công tác CSSKND còn nhiều bất cập.

          - Công tác phát triển nguồn nhân lực y tế nhất là nhóm có trình độ chuyên môn cao, sâu chưa mang tính hệ thống, những giải pháp cho việc bổ sung nguồn nhân lực thiếu tính bền vững.

- Chế độ chính sách dành cho CBYT đã được ban hành nhưng còn nhiều bất cập không mang tính đặc thù ngành y, ngân sách hằng năm chi cho y tế còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển.

II. Giải pháp, kiến nghị:

1.Giải pháp:

1.1.Tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về vai trò tầm quan trọng của y tế cơ sở, đưa các mục tiêu, chỉ tiêu về y tế vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn.

          1.2.Tiếp tục củng cố tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả mạng lưới y tế cơ sở

          Xây dựng đề án, kế hoạch thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2013-2020. Tăng cường hoạt động phối hợp liên ngành lồng ghép các chương trình y tế, đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khỏe để người dân nâng cao nhận thức thay đổi hành vi, tham gia các hoạt động vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể, chăm sóc bảo vệ sức khỏe.

1.3.Ưu tiên đầu tư ngân sách xây dựng cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị, đào tạo nhân lực cho y tế cơ sở nhất là các huyện, xã miền núi khó khăn. Tiếp tục nâng cao chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh tại các trung tâm y tế, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã, triển khai tốt các chương trình mục tiêu, dự án y tế để giải quyết các vấn đề sức khỏe nổi cộm tại cộng đồng. Quan tâm phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng các đề án qui hoạch phát triển ngành, các đề án đào tạo, thu hút để phát triển nguồn nhân lực y tế, nhất là tuyến cơ sở

          2.Kiến nghị:

          1.1.Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các tỉnh, thành quy hoạch đầu tư xây dựng phát triển các trạm y tế gắn với khu dân cư để thực hiện chức năng dự phòng, công tác dân số, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; phân loại các trạm  y tế có nhu cầu cao về khám chữa bệnh tại địa phương (do xa trung tâm huyện, thành phố) để có sự đầu tư thỏa đáng trong xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ đạt chuẩn quốc gia trong điều kiện nguồn ngân sách khó khăn, bác sĩ thiếu thốn như hiện nay. Đồng thời chỉ đạo việc sắp xếp, kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả công tác của phòng y tế cấp huyện.  

1.2. Bộ Y tế sớm ban hành qui định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Trung tâm Y tế huyện một chức năng (dự phòng), hai chức năng (dự phòng và điều trị) để các địa phương căn cứ thi hành.

1.3. Đề nghị bổ sung hoặc thay thế Quyết định 58/TTg ngày 03/02/1994 của Thủ tướng Chính phủ qui định một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở. Cần xác định cán bộ y tế xã là viên chức sự nghiệp y tế, được bổ nhiệm ngạch viên chức, để họ được hưởng các quyền lợi của một viên chức nhà nước như viên chức dân số xã, phường, thị trấn.

1.4.Tăng mức phụ cấp cho nhân viên y tế thôn bản, và nên qui định NVYTTB tại các tổ dân phố thuộc các phường, thị trấn cũng được hưởng phụ cấp chứ không để địa phương vận dụng chi trả phụ cấp (mức phụ cấp là 0,5; 0,3 mức lương tối thiểu là quá thấp).

1.5.Trên thực tế chế độ thu hút cán bộ của các tỉnh nghèo chưa có hiệu quả so với các tỉnh, thành có điều kiện kinh tế khá hơn, nhất là những tỉnh ở gần sát với đô thị lớn, đề nghị Chính phủ cần ban hành chính sách đãi ngộ đặc biệt cho cán bộ y tế ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nhất là tuyến huyện, xã.

1.6.Chính phủ nên có qui định nghĩa vụ xã hội đối với bác sĩ, dược sĩ đại học, sau khi hết tốt nghiệp ra trường, phải có thời gian công tác nhất định tại tuyến cơ sở, mới được công tác ở tuyến trên. Có như vậy người dân ở các vùng xa các thành phố lớn mới có cơ hội được CSSK công bằng hơn.

1.7.Tăng chi ngân sách nhà nước cho y tế nhất là y tế cơ sở đúng với quan điểm đầu tư cho sức khỏe chính là đầu tư cho sự phát triển.

                     

                                                 PHỤ LỤC

Về phát triển và hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở

1. Hệ thống tổ chức bộ máy tuyến y tế cơ sở                                                        

Nội dung                                             Năm

2002

2005

2011

1.Số huyện, thành phố đã thành lập Phòng y tế

00

17

18

2.Số bệnh viện huyện, thành phố

00

17

1

3.Số Trung tâm y tế huyện, thành phố

14

00

18

4.Số phòng khám Đa khoa khu vực

19

14

11

5.Tổng số Trạm y tế xã, phường

219

220

238

6.Số xã, phường chưa có Trạm y tế

3

7

6

7.Số Trạm y tế xã, phường đạt chuẩn Quốc gia

 

34

165

8.Số Trạm y tế xã, phường có bác sĩ

102

102

58

9.Tổng số Trạm y tế có nữ hộ sinh (kể cả YSSN)

197

214

217

10.Số thôn, khu phố có nhân viên y tế hoạt động

1.467

1.528

1.597

11.Số nhân viên y tế thôn, khu phố đang hoạt động

1.541

1.743

1.807

12.Số nhân viên y tế thôn, khu phố được hưởng phụ cấp

1.541

1.743

1.807

13.Mức phụ cấp nhân viên y tế thôn, khu phố

(nghìn đòng/tháng/người):         -Miền núi

                                                   -Đồng bằng

 

40.000

 

40.000

 

415.000

40.000

40.000

219.000

 

2. Kinh phí đầu tư cho hệ thống y tế cơ sở

      Đơn vị tính: Triệu đồng

Nội dung                                             Năm

2002

2005

2011

1.Tổng ngân sách Nhà nước chi cho y tế (bao gồm cả ngân sách Trung ương và địa phương)

49.784

64.719

159.757

2.Ngân sách chi thường xuyên cho hệ thống y tế cơ sở

38.466

50.015

147.226

3.Ngân sách chi đầu tư phát triển hệ thống y tế cơ sở (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế…)

5.400

8.637

85.614

3.1.Ngân sách của Trung ương

 

1.000

74.614

3.2.Ngân sách của địa phương

5.400

7.637

11.000

4.Tỷ lệ Trạm y tế xã được cấp ngân sách chi thường xuyên (12 triệu – 15 triệu/năm)

0%

0%

100%

5.Số bệnh viện thực hiện tự chủ về tài chính

0%

16/16

18/18

6.Kinh phí UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch phân bổ ngân sách nâng cấp bệnh viện huyện (đvt: triệu đồng)

4.980

5.465

38.286

7.Tổng số vốn hỗ trợ đầu tư bệnh viện huyện đã nhận được (triệu đồng)

4.980

4.877

38.286

8.Tổng số vốn đầu tư bệnh viện huyện từ ngân sách của tỉnh (triệu đồng)

4.980

4.877

3.686

 

 

 

 

 

 

 

 
Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung