Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Tăng cường năng lực hệ thống y tế cơ sở góp phần thực hiện thắng lợi chăm sóc sức khỏe toàn dân Công bằng - Hiệu quả - Chất lượng(CB, HQ, CL) trong tình hình mới  (12/12/2012)
Các nước trong khu vực và trên thế giới đánh giá rất cao những thành tựu chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của Việt Nam. Thành tựu này có được là nhờ Hệ thống y tế Việt Nam có một nền tảng vững chắc là Hệ thống y tế cơ sở, bao phủ khắp các vùng miền trên cả nước, trong đó thành phần y tế công lập giữ vai trò chủ lực, nòng cốt. Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống y tế cơ sở là một chiến lược lớn, xuyên suốt và nhất quán qua nhiều thời kỳ trong sự nghiệp CSBVSKND của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
 

PGS.TS Bùi Thanh Tâm

Đại học y tế công cộng

TTK Hội Y tế Công cộng Việt Nam

1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Ngành y tế cách mạng Việt Nam đang tiến dần đến ngày kỷ niệm 70 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển (1945 - 2015).

Trên chặng đường lịch sử đã kinh qua, ngành luôn hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng được Tổ quốc và nhân dân tin cậy giao phó là Chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân (CSBVSKND), phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống. Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao những tấm gương hy sinh quên mình, những cống hiến xuất sắc của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành y tế (CBNVYT), biểu dương những thành tựu to lớn mà ngành y tế đã đạt được trong suốt hơn 30 năm kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, đánh đuổi giặc ngoại xâm và gần 40 năm phục vụ công cuộc xây dựng hòa bình, bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi chặng đường phát triển, CBNVYT đã vượt qua những khó khăn, thử thách và những thiếu thốn không kể xiết để CSBVSKND có hiệu quả dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Các quốc gia bè bạn, các Tổ chức quốc tế tiến bộ, nhiều kiều bào yêu nước ở nước ngoài luôn luôn tích cực ủng hộ sự nghiệp CSBVSKND của ngành y tế và Chính phủ Việt nam. Nhờ vậy, bước sang Thiên niên kỷ mới, Việt Nam đã đạt được hoặc vượt các mục tiêu thiên niên kỷ (Millennium Developmental Goals- MDG) do Liên hiệp quốc (United States -UN) đề ra cho các quốc gia thành viên, trong đó có những mục tiêu lớn về CSSKND. Tại hội nghị Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization - WHO) khu vực Châu Á - Tây Thái Bình Dương họp tại Hà Nội từ 24-28/9/2012, Tiến sĩ Sin Young Soo là Giám đốc Tổ chức khu vực này của WHO đã có nhận xét: “Việt Nam là quốc gia đã nỗ lực nhiều và hoàn thành trước thời hạn các mục tiêu thiên niên kỷ như thanh toán bệnh sởi, tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi, tỷ suất tử vong bà mẹ đều thấp hơn so với nhiều quốc gia có cùng điều kiện kinh tế. Tuổi thọ bình quân của người Việt nam tăng, đạt 73-74 tuổi. Đặc biệt, Việt Nam đã rất chú trọng hoạt động y tế ở các vùng nông thôn, miền núi, …”. Thành tựu CSBVSKND đã góp phần đáng kể vào thứ tự xếp hạng của Việt Nam về Chỉ số phát triển con người (Human Developmental Indes - HDI) so với các nước trên thế giới.

Các nước trong khu vực và trên thế giới đánh giá rất cao những thành tựu chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của Việt Nam. Thành tựu này có được là nhờ Hệ thống y tế Việt Nam có một nền tảng vững chắc là Hệ thống y tế cơ sở, bao phủ khắp các vùng miền trên cả nước, trong đó thành phần y tế công lập giữ vai trò chủ lực, nòng cốt. Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống y tế cơ sở là một chiến lược lớn, xuyên suốt và nhất quán qua nhiều thời kỳ trong sự nghiệp CSBVSKND của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt, từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, với những chính sách mới về kinh tế, xã hội, môi trường kinh tế-xã hội có những thay đổi rộng lớn, sâu sắc thì các chính sách về y tế nói chung và hệ thống y tế cơ sở nói riêng đã có những biến chuyển bước ngoặt để thích ứng với tình hình mới trong nước và hội nhập quốc tế. Có thể nói, chưa bao giờ hệ thống y tế cơ sở được củng cố sâu rộng, vững chắc như bây giờ; cũng chưa bao giờ hệ thống y tế cơ sở phải đảm đương nhiều nhiệm vụ nặng nề, phức tạp trong điều kiện thuận lợi và những khó khăn, thách thức chưa từng có như bây giờ. Một loạt các vấn đề mâu thuẫn cần được giải quyết để HTYTCS tiếp tục được củng cố và phát triển bền vững ở tất cả các vùng, miền trên cả nước, tiếp tục phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, xoá đói giảm nghèo trong tình hình mới thông qua công tác CSSKTD ở cộng đồng một cách công bằng, hiệu quả, thuận tiện, chất lượng ngày càng tốt hơn.

Để phát huy đầy đủ các thế mạnh tiềm năng của HTYTCS hiện có, để hạn chế các yếu tố nguy cơ  làm suy giảm hiệu quả hoạt động, thậm chí phát triển lệch lạc của HTYTCS trong tình hình mới, việc tăng cường năng lực toàn diện của HTYTCS là một yêu cầu cấp bách. Vấn đề này muốn làm tốt cần phải dựa trên cơ sở lý luận khoa học, yêu cầu thực tiễn và những bài học kinh nghiệm truyền thống phục vụ CSSKND, phục vụ cách mạng của HTYTCS nước ta ở những thời kỳ khác nhau. Các hướng dẫn của TCYTTG (WHO), các bài học thành công và không thành công về phát triển HTYTCS trong nền kinh tế thị trường ở các nước trên thế giới, sự giúp đỡ nhiệt thành của các quốc gia bè bạn, các tổ chức quốc tế, các nhà hảo tâm gần xa, chính sách mở cửa thông thoáng trong lĩnh vực y tế của Nhà nước v.v… là những điều kiện thuận lợi để HTYTCS Việt Nam phát triển toàn diện, bền vững, thực hiện CSSKTD với hiệu quả, chất lượng ngày càng cao, từng bước nâng cao tính công bằng trong việc tiếp cận và sử dụng các DVYT ở tuyến cơ sở.

Box 1: Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Developmental Goals – MDG) thuộc lĩnh vực y tế do Liên hiệp quốc (UN) đề ra cho các quốc gia trên toàn cầu.

Mục tiêu 4 (MDG):

·        Giảm 3/4 tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi giai đoạn 1990-2015

     Ở VN: Tử vong trẻ dưới 5 tuổi là 58,1‰ (1990) và 23,8‰ (2010).

Mục tiêu 5 (MDG):

·        Giảm 3/4 tỷ suất tử vong mẹ giai đoạn 1990-2015. Đến 2015 phổ cập chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Ở VN: Tử vong mẹ là 233/100.000 trẻ đẻ ra sống (1990) và 68/100.000 trẻ đẻ ra sống (2010).

Mục tiêu 6 (MDG):

·        Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác. Chặn đứng và bắt đầu thu hẹp sự lây lan HIV vào năm 2015; chặn đứng và bắt đầu giảm tỷ lệ mắc sốt rét cũng như các bệnh dịch khác vào năm 2015.

Ở VN: Số người nhiễm mới HIV đã chững lại, năm 2009 có 15.713 ca nhiễm mới, năm 2010 có 13.815 ca nhiễm mới. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng được duy trì ở mức dưới 0,03%. Số người mắc và chết do sốt rét giảm đáng kể; năm 2006 có 91.635 người mắc sốt rét (108,9 ca/100.000 dân), chết 41 người (0,05 TV/100.000 dân); năm 2010 mắc sốt rét 54.297 người (62/100.000 dân), chết sốt rét 21 người (0,02/100.000 dân). Như vậy, chỉ sau 5 năm (2006-2010), VN đã giảm 40,7% số người mắc và 48,8% số người chết do sốt rét. Các bệnh lây truyền có vacxin tiêm phòng được loại trừ hoặc khống chế ở tỷ lệ thấp.

Mục tiêu 7 (MDG):

·        Giảm một nửa tỷ lệ người không có khả năng tiếp cận nguồn nước uống an toàn và vệ sinh cơ bản.

Ở VN: Năm 2010 có 86,7% các hộ gia đình trên cả nước được sử dụng nước sạch. Vùng ĐBSH đạt 98,3%, vùng TD-MNPB đạt 61,5%, vùng bắc TB-DHMT đạt 89,7%, Tây Nguyên đạt 78,5%, Đông Nam Bộ đạt 97,1%, vùng ĐBSCL đạt 77,9%. Tỷ lệ HGĐ cả nước có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 54% (2010).

Box 2: Chỉ số phát triển con người (Human Developmental Index – HDI) của Việt Nam và các nước Đông Nam Á.

 

Quốc gia

20

Quốc gia

20

HDI

Thứ hạng

HDI

Thứ hạng

Brunei

0,805

37

Malaysia

0,744

57

Cambodia

0,494

124

Myanmar

0,451

132

Timor-Leste

0,502

120

Phillipines

0,638

97

Indonesia

0,600

108

Singapore

0,846

27

Lao PDR

0,497

12

Thailand

0,654

92

 

 

 

Vietnam

0,572

113

2. NHẮC LẠI MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HTYTCS VÀ CSSKTD.

2.1. Định nghĩa sức khỏe:

Theo WHO, sức khỏe là trạng thái hoàn toàn sung mãn về thể chất, tâm thần và xã hội, không chỉ là không có bệnh hoặc tật.

Như vậy, hàm nghĩa của sức khỏe khá rộng và toàn diện. Khái niệm sức khỏe này được cả thế giới thừa nhận từ nhiều năm nay, trong đó có Việt Nam.

 

Box 3: Một số mục tiêu y tế của Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 21.

Theo Niên giám TKYT- 2010. BYT

 

STT

Chỉ tiêu mục tiêu

Mục tiêu

2010 đã thực hiện

2010

2015

2020

1

Hy vọng sống (tuổi thọ trung bình)

73

74

75

72,9

2

Tử vong mẹ (/100.000 trẻ đẻ sống)

68

58,3

52

68

3

Chết trẻ < 1 tuổi  (IMR - ‰)

< 16

14

11

15,8

4

Chết trẻ < 5 tuổi  (CMR - ‰)

25

19,3

16

23,8

5

Tỷ lệ trẻ < 5 tuổi bị SDD (%)

18

15

12

17,5

6

Tốc độ tăng dân số (%)

1,03

1

1

1,01

7

Tỷ số giới tính khi sinh (trai/100 gái)

111

113

115

111,2

8

Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng (%)

< 0,3

< 0,3

< 0,3

0,2

9

Tỷ lệ hộ gia đình dùng nước sạch (%)

-

-

-

86,7

10

Tỷ lệ hộ gia đình có HX hợp vệ sinh (%)

-

-

-

54

11

Số bác sỹ cho 10.000 dân

7

8

9

7,2

12

Tỷ lệ thôn, bản có NVYT

85

90

> 90

100

13

Tỷ lệ TYT xã có bác sĩ

70

80

90

70

14

Tỷ lệ trẻ < 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ (%)

> 90

> 90

> 90

94

15

Tỷ lệ xã đạt chuẩn QG về y tế xã (%)

-

60 **

80

80,1*

16

Tỷ lệ dân số có BHYT (%)

60

70

> 80

60,92

17

Số giường BV/10.000 dân

20,5

23

25

21,9

18

Tỷ lệ dân số KCB bằng YHCT (%)

14

20

25

14,9

 

*   Chuẩn cũ (2000-2010)

** Chuẩn mới (2011-2020, Quyết định BYT số 3447/QĐ-BYT)

 

2.2. Chăm sóc sức khỏe toàn dân (CSSKTD).

CSSKTD có nghĩa là mọi người đều được CSSK.

Quyền được CSSK là một trong những quyền cơ bản của con người. Quyền này được ghi nhận trong hiến pháp và trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ở mỗi thời kỳ khác nhau, kể từ ngày cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước VNDCCH ra đời, sau này là nước CHXHCNVN.

Vấn đề là ở chỗ, để quyền được CSSK trở thành hiện thực đối với tất cả mọi người, cần có những giải pháp khả thi như thế nào trong từng điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước.

2.3. Y tế cơ sở (YTCS).

Y tế cơ sở là nền móng của toàn bộ hệ thống y tế quốc gia, là lực lượng chủ lực giải quyết các vấn đề CSBVNCSKND tại cộng đồng.

“YTCS ở nước ta gồm có các trạm y tế xã, phường, mạng lưới y tế thôn, bản, ấp, đường phố, các cơ sở hành nghề y dược tư nhân tại cộng đồng, các trạm y tế thuộc các doanh nghiệp, công ty .v.v… Ngoài ra, tham gia vào CSBVSKND tại cộng đồng còn có những người tình nguyện, hội viên chữ thập đỏ, ông lang, bà mế, bà mụ, .v.v… Y tế cơ sở là đội quân nhân dân trên mặt trận CSBVSKND … Củng cố YTCS cần đặt trọng tâm vào củng cố trạm y tế xã. Tuy nhiên, trạm y tế xã sẽ không thể hoạt động có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của trung tâm y tế huyện và UBND xã, cũng như nếu nó không có một mạng lưới y tế thôn, bản mạnh, được tổ chức tốt và hoạt động tích cực. Hệ thống YTCS giống như một cơ thể con người mà thân thể, tim, phổi là trạm y tế xã, đầu óc chỉ huy là Trung tâm y tế huyện, chân và tay là y tế thôn bản. Con người đó muốn hoạt động không thể thiếu đầu, thiếu tim, phổi và chân tay. Củng cố YTCS không chỉ là củng cố trạm y tế xã, mà còn cần tăng cường vai trò chỉ đạo và hỗ trợ của tuyến huyện, củng cố và phát triển mạng lưới y tế thôn bản và các hoạt động CSBVSKND ở mỗi gia đình. Trong 3 khâu đó không thể coi nhẹ vai trò ở bất kỳ một khâu nào”[1].

Trong một bài viết kiểm điểm việc thực hiện NQTW 4 khóa 7, Quyết định số 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên Bộ số 08/TT-LB về YTCS tác giả Phạm Mạnh Hùng chỉ rõ: “Hệ thống tổ chức y tế ở nước ta được chia thành 4 tuyến bao gồm tuyến TW, tuyến tỉnh, tuyến huyện, và tuyến xã … Y tế tuyến huyện là nơi cứu chữa cơ bản và thực hiện các dịch vụ y tế phục vụ nhân dân, đồng thời là tuyến hỗ trợ trực tiếp cho y tế tuyến xã trong công tác CSBVSKND … Y tế tuyến xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) cho nhân dân … Y tế thôn, bản … nằm ngay trong dân có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, phát hiện sớm dịch bệnh, xử trí cấp cứu ban đầu, chăm sóc người mắc bệnh nhẹ và mạn tính .v.v…”[2].

3. THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỆ THỐNG Y TẾ CƠ SỞ TRONG SỰ NGHIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE TOÀN DÂN HIỆN NAY.

3.1. Thuận lợi:

Thuận lợi 1: Đã có được các cơ sở pháp lý vững chắc. những chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước về công tác củng cố y tế cơ sở. Nhận thức của cán bộ Đảng, chính quyền các cấp về y tế cơ sở ngày càng được nâng lên, từ đó người lãnh đạo địa phương đề ra các biện pháp cụ thể, thiết thực về củng cố YTCS và triển khai thực hiện cho địa phương mình. Mọi người cần hiểu cho rõ là hệ thống YTCS vững mạnh chẳng những đóng góp tích cực vào công tác CSBVSKND ngay tại cộng đồng mà còn góp phần đáng kể vào công tác xóa đói giảm nghèo, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của địa phương thông qua các hoạt động làm giảm các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng, giảm số người mắc bệnh và tàn tật, giảm số ca tử vong, cải thiện môi trường sống, nâng cao chất lượng sống của người dân .v.v… Đặc biệt, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (tháng 1/2012) đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ của ngành y tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chiến lược CSBVNCSKND giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch 5 năm (2011-2015) của ngành y tế cũng đã được xây dựng. Nhiều vấn đề nâng cao năng lực hệ thống y tế quốc gia nói chung và hệ thống y tế cơ sở nói riêng để CSSKND một cách công bằng, hiệu quả, chất lượng đã được đề cập.

Thuận lợi 2: Qua nhiều năm đầu tư công sức, tiền của, xây dựng, chế độ chính sách phù hợp, đổi mới tổ chức và quản lý, hệ thống y tế cơ sở nước ta đã từng bước được củng cố, phát triển vững chắc cả về bề rộng và bề sâu, hoạt động CSBVSKND ngày càng có hiệu quả hơn.

Năm 2010 trong số 344.876 CBNVYT công lập ở cả nước có 271.196 người thuộc khối y tế địa phương (78,6%), 33.480 người thuộc khối y tế các ngành (9,7%), ở khối TW có 40.200 người (10,7%). Nằm trong hệ thống y tế công lập ở tuyến cơ sở (huyện, xã, thôn, bản) cả nước có 624 bệnh viên huyện, 631 PKĐK, 79 nhà HSKV, 10.733 trạm y tế xã. Hơn 70% số  TYTX đã có bác sĩ, 95,6% số TYTX có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh, 98,7% số TYTX có cơ sở trạm xá. Tỷ lệ số xã trên cả nước đạt chuẩn quốc gia về y tế xã là 80,1%. Lực lượng NVYT thôn, bản, ấp, tổ dân phố cũng rất hùng hậu với 100.834 người, tỷ lệ thôn, bản, ấp, tổ dân phố có NVYT hoạt động đạt 78,8%, tỷ lệ thôn, bản, ấp của xã, thị trấn có NVYT hoạt động đạt 97,5%. Đây là một tiềm năng lớn cho việc thực hiện các hoạt động CSBVNCSKND ở cộng đồng dân cư, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các trường học, cơ quan tại mỗi địa phương. Cũng trong năm 2010, ngành y tế đã thực hiện hơn 205 triệu lượt người khám bệnh (bình quân 2,36 lượt/ người/ năm), trong đó hơn 93% là KB ở các địa phương (2,2 lượt/ người/ năm), 2,3% là KB ở y tế các ngành, 3,9% KB ở y tế tuyến TW. Y tế địa phương giải quyết hơn 88% số lượt người điều trị nội trú (trong tổng số hơn 11,56 triệu lượt/người trên cả nước), hơn 95% số lượt người điều trị ngoại trú (trong tổng số hơn 32,81 triệu lượt/người trên cả nước). 82% số ca phẫu thuật (trong tổng số hơn 2,36 triệu ca phẫu thuật ở cả nước). của toàn ngành y tế năm 2010.

Thuận lợi 3: Nhiều quy định chuyên môn, trang thiết bị, kỹ thuật y tế và cơ sở hạ tầng đã được xây dựng và ban hành cho y tế các tuyến dưới dạng quy chuẩn hoặc tiêu chuẩn, trong đó có y tế tuyến huyện và tuyến xã. Đáng chú ý là tiêu chuẩn phân cấp kỹ thuật thực hành cho các tuyến y tế, chuẩn quốc gia về y tế xã, chuẩn quốc gia về hệ thống y tế dự phòng .v.v… Thực hiện được các quy định trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn trên đây sẽ nâng cao đáng kể tiềm lực và chất lượng các DVYT ở tuyến cơ sở.

Thuận lợi 4: Công tác phối hợp liên ngành, xã hội hóa các hoạt động CSBVSKND ở tuyến y tế cơ sở đã có những bước tiến rõ rệt trong những năm gần đây như KCB cho người nghèo, người có công, các nạn nhân chất độc Dioxin - da cam, người tàn tật, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống tai nạn, chấn thương .v.v… Y tế cơ sở đã phối hợp lồng ghép các mục tiêu y tế của mình vào những phong trào quần chúng rộng khắp, sôi động ở các địa phương như “Xây dựng khu dân cư văn hóa”, “Xây dựng làng văn hóa sức khỏe”. “Xây dựng nông thôn mới” .v.v… do Mặt trận Tổ quốc phát động.

Các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người cận nghèo của Chính phủ về khám chữa bệnh, tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2020 (hiện đã đạt được 65% dân số có BHYT) .v.v… là những tiền đề tốt để y tế cơ sở phục vụ người dân tốt hơn, hiệu quả hơn.

Thuận lợi 5: Những đổi mới về tổ chức, chính sách đầu tư đối với y tế cơ sở ngày càng được chú ý hơn. Sự giúp đỡ của các quốc gia bè bạn và các tổ chức quốc tế thường dành ưu tiên cho y tế cơ sở ở Việt Nam.

Nhờ vậy, về cơ bản nhân lực, vật lực tài lực cho các hoạt động của hệ thống y tế cơ sở trên toàn quốc được đảm bảo ở mức cần thiết. Sự thay đổi hệ thống tổ chức y tế tuyến huyện từ một cơ quan y tế duy nhất là Trung tâm y tế huyện thành 3 bộ phận chỉ đạo y tế riêng rẽ là phòng y tế huyện, Bệnh viện huyện và Trung tâm y tế huyện có thể là một bước cải tiến tốt nếu như sự phối hợp chỉ đạo hoạt động y tế trên địa bàn huyện giữa 3 bộ phận trên luôn luôn chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau trong cùng một hệ thống y tế cơ sở chung.

Thuận lợi 6: Ngày nay điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước đã được cải thiện rất nhiều so với trước đây. Hầu như tất cả các vùng, miền trên cả nước đã được điện khí hóa, thông tin liên lạc hiện đại, thông suốt từ thôn, xã đến TW, đường ô tô đã tới được tất cả các trung tâm xã, huyện, thị, phương tiện giao thông nhiều và nhanh chóng. Đây là những tiền đề rất thuận lợi để người dân tiếp cận với các thông tin y tế, các cơ sở DVYT gần xa. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống y tế ngoài công lập (hiệu thuốc, phòng khám đa khoa, BV tư nhân, KCB y học cổ truyền, .v.v…) đã góp phần đáng kể vào việc KCB và mua thuốc chữa bệnh cho nhân dân khi cần thiết. Nếu được quản lý, bồi dưỡng thường xuyên về chính sách y tế và chuyên môn nghiệp vụ thì lực lượng NVYT “không biên chế”, “không lương” này sẽ phát huy tốt hơn nữa những đóng góp của họ vào CSBVSKND ở cộng đồng.

Tuy có những yếu tố thuận lợi nêu trên, hệ thống y tế cơ sở của nước ta vẫn còn đang phải đứng trước những thách thức to lớn trên con đường phát triển bền vững để hoàn thành sự nghiệp cao quý là CSSKTD một cách công bằng, hiệu quả và chất lượng. Cụ thể là:

Nhìn chung, các cơ sở KCB công lập (BV huyện, PKĐK, trạm y tế xã) còn chưa thu hút được nhiều người bệnh đến chữa trị. Một bộ phận không nhỏ số người bệnh tới thẳng các tuyến y tế trên (Tỉnh, TW) hoặc các cơ sở y tế tư nhân để điều trị cho dù phải chi phí tốn kém. Một bộ phận người bệnh thì không đến các cơ sở y tế khám, điều trị mà mua thuốc về nhà tự chữa. Các hoạt động y tế dự phòng của y tế cơ sở không phải ở nơi nào cũng tốt. Các hoạt động CSSKBĐ ở một số địa phương chưa thực sự đi vào chiều sâu. Bằng chứng là các bệnh dịch như sốt xuất huyết, tiêu chảy cấp, tay chân miệng v.v… vẫn xảy ra thường xuyên, dai dẳng ở nhiều nơi, năm này sang năm khác; ô nhiễm môi trường sống và lao động chưa được khống chế có hiệu quả; ATVSTP chưa được kiểm soát tốt, các vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt ở công nhân các khu công nghiệp vẫn thường xảy ra, nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng ngày càng phức tạp, trầm trọng hơn.

Thách thức 2: Đội ngũ CBNVYT của hệ thống y tế cơ sở chưa có nhiều chuyên gia, kỹ thuật viên giỏi, còn thiếu về số lượng và còn yếu về chất lượng, nhất là ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Nhà nước, chính quyền các địa phương chưa có những chính sách đột phá để thu hút, giữ chân những CBNVYT giỏi, được đào tạo tốt và khuyến khích những CBNVYT trẻ về làm việc ổn định, lâu dài ở tuyến huyện và tuyến xã là tuyến dịch vụ kỹ thuật y tế công  lập gần gũi nhất với người dân và người lao động ở cộng đồng.

Thách thức 3: Các nhiệm vụ của hệ thống YTCS ngày càng nhiều và đa dạng. Có rất nhiều chương trình/dự án y tế về CSSK cộng đồng từ y tế tuyến trên đổ dồn xuống cho hệ thống YTCS triển khai thực hiện. Công tác hành chính, giấy tờ của hệ thống YTCS, đặc biệt là Trạm y tế xã, rất nặng nề, chiếm khá nhiều thời gian làm việc chuyên môn của NVYT. Quỹ thời gian của NVYT cho các hoạt động CSSKND ở gia đình và cộng đồng trở nên hạn hẹp. Trong khi đó, số NVYT công lập là có hạn; người lãnh đạo quản lý y tế ở tuyến xã và tuyến huyện còn phải giành nhiều thời gian cho các công tác chung khác của địa phương; việc áp dụng công nghệ tin học vào công tác QLYT ở tuyến cơ sở còn là một viễn cảnh xa vời.

Thách thức 4: Trong hoạt động CSBVSKND ở tuyến cơ sở chưa có mô hình mẫu nào hài hòa thật tốt được lợi ích của cả 3 bên là Nhà nước, người dân sử dụng các DVYT để CSBVSK cho mình và người cung cấp các DVYT là CBNVYT. Về phía Nhà nước, đã có chính sách rõ ràng, đã cung cấp ngân sách TTB y tế cần thiết cho hệ thống y tế cơ sở. Về phía người dân có nhu cầu CSSK ngày càng cao nhưng khả năng chi trả các DVYT lại không giống nhau. Về phía CBNVYT dù có tâm huyết, được đào tạo tốt nhưng mức lương và thu nhập lại rất khiêm tốt, con đường tiến lên trong tương lai nghề nghiệp chưa được rộng mở v.v… Đó là những tồn tại không dễ giải quyết được ngay hôm nay.

Thách thức 5: Mặc dù đã có những chuyển biến nhận thức tích cực về công tác CSBVSKND của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng, nhưng ở một số không ít địa phương người lãnh đạo chủ chốt gần như giao hoàn toàn trách nhiệm CSBVSKND cho ngành y tế, chưa thực sự coi đây là một trong những trách nhiệm chính của mình. Mặt khác, ở một số nơi khác ngành y tế chưa chủ động, tích cực tham mưu cho người lãnh đạo chính quyền những yêu cầu và giải pháp để CSBVNCSKND tại địa phương, đặc biệt là ở tuyến cơ sở, chất lượng, hiệu quả và công bằng hơn. Có nhiều vấn đề sức khỏe, bệnh tật, cải thiện môi trường sống và lao động, ATVSTP khắc phục các tệ nạn xã hội, kiểm soát các thói quen có hại (hút thuốc, lạm dụng rượu bia, ăn uống không vệ sinh) v.v… chỉ riêng ngành y tế, chủ yếu là y tế cơ sở, không thể nào một mình làm được. Nhưng trong thực tế, sự phối hợp liên ngành trong vấn đề này còn chưa chặt chẽ, thường xuyên. Từ đó, sản phẩm sức khỏe ở đầu ra của hệ thống y tế cơ sở bị hạn chế.

Box 4: Các nội dung CSSKBĐ ở Việt Nam

a/ 8 nội dung theo Tuyên ngôn Alma. Ata của tổ chức Y tế thế thới:

                                             1.         Giáo dục sức khỏe.

                                             2.         Chăm sóc sức khỏe BMTE.

                                             3.         Tiêm chủng mở rộng.

                                             4.         Dân số - Kế hoạch hóa gia đình.

                                             5.         Khám chữa bệnh thông thường.

                                             6.         Phòng chống bệnh dịch lưu hành địa phương.

                                             7.         Vệ sinh- An toàn thực phẩm.

                                             8.         Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.

b/ 2 nội dung Việt Nam bổ sung

                                             9.         Củng cố y tế cơ sở.

                                           10.      Quản lý sức khỏe toàn dân.

 


Quyết định số 3447/QĐ-BYT

ngày 22/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Bộ  Tiêu chí quốc gia về y tế xã ban hành ngày 22/9/2011 của Bộ Trưởng Bộ Y tế có 10 tiêu chí và 44 chỉ số được đánh giá bằng điểm, tối đa là 100 điểm.

Tiêu chí 1:                          4 điểm

Chỉ đạo, điều hành công tác CSSK nhân dân.

Tiêu chí 2:                          9 điểm

Nhân lực y tế

Tiêu chí 3:                          12 điểm

Cơ sở hạ tầng Trạm y tế xã.

Tiêu chí 4:                          10 điểm

Trang thiết bị, thuốc và phương tiện khác.

Tiêu chí 5:                          10 điểm

Kế hoạch- Tài chính

Tiêu chí 6:                          17 điểm

Y tế dự phòng, vệ sinh môi trường và các chương trình MTQG về y tế.

Tiêu chí 7:                          15 điểm

Khám chữa bệnh, PHCN và Y học cổ truyền.

Tiêu chí 8:                          9 điểm

Chăm sóc sức khỏe bà mẹ- trẻ em.

Tiêu chí 9:                          10 điểm

Dân số- Kế hoạch hóa gia đình.

Tiêu chí 10:                        4 điểm

Truyền thông- Giáo dục sức khỏe.

 


Trước hết, về mặt nhận thức cần làm cho cán bộ, nhân dân hiểu rõ:

- Y tế cơ sở không phải chỉ là một mạng lưới chuyên môn kỹ thuật ở tuyến thấp nhất của ngành y tế, cung cấp các dịch vụ y tế thấp nhất ở cộng đồng. Y tế cơ sở thực sự là một hệ thống, có chức năng nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe toàn dân sống trên địa bàn huyện mà ngành y tế  là tham mưu và là lực lượng nòng cốt, chính quyền là người tổ chức, chỉ đạo; toàn dân cùng tham gia, chung tay góp sức bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình, gia đình và cộng đồng. Hệ thống YTCS được xây dựng phát triển bằng nhiều nguồn lực: ngân sách TW, ngân sách địa phương, nguồn lực từ xã hội hóa, từ các khoản thu DVYT được pháp luật cho phép. Y tế cơ sở không phải chỉ có y tế công lập mà có cả lực lượng y tế ngoài công lập đang được hành nghề tại cộng đồng. Sản phẩm đầu ra của các hoạt động y tế cơ sở không chỉ là khám chữa bệnh được nhiều hay ít, các kỹ thuật y học nào được thực hiện, v.v… mà chính là các chỉ  số sức khỏe của cộng đồng: Tuổi thọ, CSSKBMTE, chăm sóc người tàn tật, người cao tuổi, mức độ cải thiện môi trường sống và chất lượng sống v.v…

- Chăm sóc sức khỏe toàn dân cũng không phải chỉ là chăm sóc con người khi ốm  đau, tàn tật. CSSKTD ban gồm cả việc chăm sóc người đau ốm và người không đau ốm, người lành lặn và người khuyết tật, người có kinh tế vững và người nghèo, người sống ở vùng giàu và vùng nghèo .v.v… CSSKTD bao gồm cả việc tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tật, tai nạn cho người khỏe đồng thời phát hiện sớm, chẩn đoán đúng, điều trị kịp thời cho những người bị ốm đau, tàn tật, hạn chế các biến chứng nặng và tử vong. CBNVYT ở hệ thống YTCS (huyện/thị, xã/phường/thị trấn/thôn/ấp/đường phố) là người sống ở cộng đồng, gần dân và hiểu dân nhất cũng là những người có điều kiện thực hiện tốt nhất nhiệm vụ CSSKTD. Các vấn đề y tế công cộng tại tuyến cơ sở chỉ có thể giải quyết tốt khi CBNVYT cơ sở hoạt động năng động, tích cực, tranh thủ được sự hỗ trợ, giúp đỡ của các ngành, các cấp, đoàn thể quần chúng tại địa phương, sự chung tay góp sức của người dân và lực lượng y tế ngoài công lập tại cộng đồng. Yếu tố cuối cùng nhưng quan trọng nhất là sự chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện và Sở Y tế đối với mọi mặt hoạt động và phát triển của hệ thống YTCS.

Nhà nước, chính quyền các địa phương đã có những cố gắng liên tục để củng cố hệ thống YTCS. Nhân lực y tế và tài chính đã được ưu tiên nhiều cho khu vực này. Nhờ vậy, hệ thống các BV, PKĐK khu vực, các trung tâm y tế, các đội y tế lưu động, .v.v… được củng cố, nâng cấp đáng kể. Gần đây (2011) Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã, một số chính sách chế độ đối với CBNVYT cơ sở cũng được bổ sung hoàn thiện thêm. Vấn đề còn lại là, hoạt động CSSKTD ở tuyến cơ sở sẽ đem lại những kết quả mới nào về hiệu quả, chất lượng và công bằng.

Các biện pháp để tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống y tế cơ sở trong giai đoạn hiện nay để góp phần CSSKTD có thể tóm tắt như sau:

1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp (huyện/thị, xã/phường/ thôn/ ấp/ bản) đối với các hoạt động CSBVSK nhân dân tại địa phương, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để ngành y tế trên địa bàn hoàn thành nhiệm vụ, tổ chức tốt việc phối hợp liên ngành, các đoàn thể quần chúng, các lực lượng y tế ngoài công lập trong công tác CSSKTD, huy động xã hội tham gia tích cực vào việc xây dựng hệ thống YTCS vững mạnh và CSSKND tại cộng đồng.

2. Tăng cường công tác đào tạo CBNVYT cho hệ thống y tế cơ sở dưới các hình thức ngắn hạn, dài hạn để sớm có một đội ngũ CBNVYT đồng bộ, tinh thông chuyên môn kỹ thuật và quản lý y tế, phục vụ tốt CSBVSKND tại gia đình và cộng đồng. Có chính sách và giải pháp phù hợp để động viên CBNVYT yên tâm công tác, cống hiến hết mình cho công tác CSBVSKND tại tuyến cơ sở. Tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về CSBVSKND cho đông đảo CBNVYT.

3. Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, giám sát hỗ trợ trong hệ thống y tế cơ sở về các mặt. Đó là sự hỗ trợ giám sát của y tế huyện đối với y tế xã, của y tế xã đối với y tế thôn/bản/ấp trong việc thực hiện các CTMTQG về y tế, tổ chức KCB, phòng bệnh/phòng dịch, vệ sinh môi trường, ATVSTP, ATVSLĐ .v.v…. Đó còn là sự phối hợp hoạt động trên cùng địa bàn giữa khối y tế công lập và y tế ngoài công lập trong việc đáp ứng các nhu cầu CSBVSKND tại gia đình và cộng đồng. Hoạt động quản lý, thanh tra, giám sát hỗ trợ hoặc phối hợp cần trở thành nề nếp thường xuyên và có kế hoạch.

4. Phát huy vai trò kết hợp quân dân y, sự phối hợp giúp đỡ giữa y tế địa phương với y tế các ngành, các cơ quan, doanh nghiệp, trường học trong mỗi hoạt động y tế trên địa bàn để cho công tác CSBVSKND vừa có chất lượng, hiệu quả vừa đỡ tốn kém, lãng phí.

5. Triển khai thực hiện đầy đủ các văn bản pháp quy, các Thông tư hướng dẫn, các tiêu chuẩn, quy chuẩn của Bộ y tế về y tế cơ sở. Việc tăng cường đầu tư nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) từ phía Nhà nước và chính quyền các địa phương cho hệ thống y tế cơ sở vẫn luôn luôn là cần thiết với mức độ càng nhiều càng tốt. Sử dụng các nguồn lực đó như thế nào cho có hiệu quả nhất còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là tài năng và ý thức trách nhiệm của người lãnh đạo y tế tại địa phương.

Thực tế cho thấy, trên địa bàn cả nước ở đâu cũng có những BV huyện, TYT xã, NVYT thôn/bản hoạt động mẫu mực, hiệu quả trong những điều kiện không ít khó khăn. Các chương trình/dự án GAVI hỗ trợ y tế cơ sở 10 tỉnh thành ĐBSCL đem lại những kết quả rất khích lệ và nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị. Một nghiên cứu mới đây (2011) của các tác giả Phạm Thị Đoan Hạnh, Lê Hữu Thọ, Lê Bảo Châu tại tỉnh Khánh Hòa ở 2 trạm y tế xã cho thấy, tuy cùng có cơ sở vật chất và nhân lực đạt tiêu chuẩn Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã nhưng một nơi thu hút được 44% số bệnh nhân trong xã đến KCB, ở  nơi kia thì chỉ thu hút được 5,7%. Số lượt người đến KCB ở 1 TYT xã hàng năm liên tục gia tăng (10.625 người/năm 2009; 11.976 người/năm 2010 và 12.989 người/năm 2011) nhưng ở TYT xã còn lại số lượt KCB hàng năm chỉ đạt rất thấp (các số liệu tương ứng là 315 người, 366 người và 352 người). Vấn đề là ở chỗ, tính sẵn sàng về cung cấp DVYT ở mỗi nơi rất khác nhau: Một nơi thực hiện được 51,7% các kỹ thuật y học theo quy định, nơi kia chỉ thực hiện 13,8% (8/60); một nơi sẵn có 147 loại thuốc trong 600 loại thuốc quy định cho y tế xã, nơi kia thì chỉ có 24 loại. Những hình mẫu tiêu biểu về hiệu quả hoạt động của YTCS cho phép người ta tin tưởng tiềm năng hoạt động CSSKND của YTCS khá lớn, đầu tư mạnh cho YTCS là đúng hướng, hiệu quả cao mà chi phí thấp (tại tỉnh Khánh Hòa ở huyện được nghiên cứu mỗi TYT xã được Ngân sách cấp mỗi năm 285 triệu đồng, chi lương NVYT hết 245 triệu (86%) chỉ còn 40 triệu (16%) dùng cho chi thường xuyên)[3].

KẾT LUẬN

Để toàn dân được CSSK (Health for All) thì mọi người phải cùng tham gia CSBVSK cho bản thân mình, gia đình mình và cộng đồng (All for Health). Hệ thống YTCS được củng cố và tăng cường năng lực hoạt động là giải pháp cơ bản, lâu dài, ít tốn kém những lại khả thi nhất để CSSK toàn dân công bằng, hiệu quả và chất lượng./.



[1] Đỗ Nguyên Phương: Y tế cơ sở trong sự nghiệp CSBVSKND. Trong cuốn: “Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”. NXB Y học, Hà Nội,12.1996, trang 193-210

[2] Phạm Mạnh Hùng: Thực hiện Nghị quyết 06 - NQTW của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn: Củng cố y tế cơ sở phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong cuốn “Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới”. NXB Y học, Hà Nội, 1999, trang 64-75

[3] Phạm Thị Đoan Hạnh, Lê Hữu Thọ, Lê Bảo Châu: Sự khác biệt về cung cấp và sử dụng dịch vụ KCB tại 2 trạm y tế nông thôn và thành thị của tỉnh Khánh Hòa năm 2011. Tạp chí y tế công cộng, Hội Y tế công cộng Việt Nam, năm 2012.

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung