Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Khảo sát thực trạng hoạt động KCB của một số trạm y tế xã ở 4 tỉnh thuộc dự án nâng cao nâng cao năng lực ở một số tỉnh thành  (20/09/2012)
Trong những năm gần đây, vấn đề quá tải bệnh viện là một chủ đề nóng của xã hội. được thảo luận nhiều giữa các cơ quan y tế, Chính phủ và người dân. Một trong những nguyên nhân của quá tải bệnh viện đã được một số nghiên cứu chỉ ra cũng như đã được lãnh đạo Bộ Y tế xác định rõ, đó là chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến dưới còn thấp, dẫn tới người dân thường có xu hướng vượt lên tuyến trên điều trị.
 

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Phát triển mạng lưới y tế cơ sở là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước và Chính phủ và là một trong những trọng tâm ưu tiên của ngành y tế. Tuyến y tế cơ sở là tuyến y tế gần dân nhất, nơi đầu tiên cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản cho người dân. Trong những năm gần đây, Chính phủ và Bộ Y tế đã có nhiều nỗ lực nhằm củng cố và hoàn thiện màng lưới y tế cơ sở. Điều này đã được cụ thể hóa bằng hàng loạt các chính sách quan trọng như chính sách định hướng chung của Đảng về củng cố màng lưới y tế cơ sở, chính sách phát triển và chuẩn hóa các trạm y tế như Quyết định 370/2002/QĐ-BYT và kế tiếp là Quyết định 3447/QĐ-BYT ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020...

Trong những năm gần đây, vấn đề quá tải bệnh viện là một chủ đề nóng của xã hội. được thảo luận nhiều giữa các cơ quan y tế, Chính phủ và người dân. Một trong những nguyên nhân của quá tải bệnh viện đã được một số nghiên cứu chỉ ra cũng như đã được lãnh đạo Bộ Y tế xác định rõ, đó là chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến dưới còn thấp, dẫn tới người dân thường có xu hướng vượt lên tuyến trên điều trị.

 

Từ sau khi Quyết định 139- TTg/2002 về khám chữa bệnh cho người nghèo được ban hành năm 2002 thì các trạm y tế (TYT) đã đẩy mạnh hoạt động khám chữa bệnh cho người dân có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT). Người dân có khả năng tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) tại xã. Mặc dù nhiều TYT đã triển khai KCB BHYT nhưng cho đến nay, chất lượng khám chữa bệnh tại tuyến xã vẫn còn thấp và chưa có được những đánh giá đầy đủ trên các khía cạnh. Theo một nghiên cứu mới thực hiện của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, trình độ chuyên môn của các y bác sỹ điều trị ở các trạm y tế còn yếu, tỷ lệ y bác sỹ trả lời đúng các nội dung kiến thức khám chữa bệnh và sơ cấp cứu khá thấp, điểm đánh giá chỉ đạt 34% và 48% so với điểm tối đa. Một nghiên cứu khác của Vụ sức khỏe sinh sản – Bộ Y tế cũng chỉ ra rằng các y bác sỹ của TYT chỉ đạt khoảng 60% kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản.  

 

Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại tuyến cơ sở, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên thì cần thiết tiến hành nghiên cứu khảo sát thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của các TYT và đánh giá năng lực chuyên môn KCB của các y bác sỹ hiện đang công tác tại các trạm y tế cũng như khảo sát nhu cầu đào tạo liên tục. Các kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và chuyên môn khám chữa bệnh ở tuyến y tế cơ sở, đồng thời góp phần cung cấp thông tin cho các dự án đầu tư, hỗ trợ y tế để xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả hơn.

 

          2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

 

          Nghiên cứu này được thực hiện với các mục nhằm đánh giá thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của các trạm y tế xã tại 4 tỉnh thuộc dự án nâng cao năng lực Y tế cơ sở một số tỉnh trọng điểm.

 

 

 

           3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 

          a. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu.

 

 

3.1.1. Địa điểm nghiên cứu

 

 

1). Nghiên cứu này được tiến hành tại 4 tỉnh Tây nguyên, 1 tỉnh Nam Bộ, 2 tỉnh ở phía Bắc.

 

 

2). Tại mỗi tỉnh, lựa chọn 2 huyện để tiến hành khảo sát.

 

 

Hoạt động thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu được tiến hành tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

 

 

3.1.2. Đối tượng nghiên cứu

 

 

Tuyến tỉnh

 

Lãnh đạo/chuyên viên phụ trách khám chữa bệnh phòng Kế hoạch, Nghiệp vụ

 

 

Tuyến huyện

 

-         Lãnh đạo TTYT/bệnh viện huyện

 

 

-         Lãnh đạo phòng y tế

 

 

Tuyến xã

 

-         Trưởng trạm y tế

 

 

-         Bác sỹ đa khoa, bác sỹ chuyên khoa hiện đang làm việc tại trạm y tế

 

 

-         Y sỹ đa khoa, y sỹ chuyên khoa hiện đang làm việc tại trạm y tế

 

 

Người dân:

 

-         Phỏng vấn người dân là người sử dụng dịch vụ y tế trạm y tế xã tại xã và tại bệnh viện huyện

 

 

A . PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 

 

3.2.1.  Thời gian nghiên cứu

 

 

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 4 tháng, từ tháng 2 đến tháng 6/2012

 

 

3.2.2.  Thiết kế nghiên cứu

 

 

Nghiên cứu này sử dụng thiết kế nghiên cứu điều tra mô tả cắt ngang.

 

 

3.2.3.  Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

 

 

¨       Chọn tỉnh: 4 tỉnh được lựa chọn có chủ đích đại diện cho vùng miền núi Đông Bắc, miền núi-trung du Tây Bắc, miền núi Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ.

 

 

¨       Chọn huyện: trong 4 tỉnh nghiên cứu, mỗi tỉnh lựa chọn có chủ đích 2 huyện để khảo sát, trong đó 1 huyện gần trung tâm tỉnh và 1 huyện xa trung tâm tỉnh.

 

 

¨       Chọn xã: Trong các huyện đã được chọn

 

 

Chọn toàn bộ các xã (trung bình 15 xã/huyện) để khảo sát thực trạng công tác khám chữa bệnh của trạm y tế xã.

 

 

 Lựa chọn 1 xã của huyện để khảo sát trực tiếp công tác khám chữa bệnh (do TTYT/BV huyện chọn xã).

 

 

3.2.4    :Phương pháp thu thập số liệu

 

 

Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp thu thập số liệu định tính và định lượng trong điều tra khảo sát tại thực địa để thu thập số liệu.

 

 

Tuyến

 

 

Đối tượng

 

 

Nội dung

 

 

PP thu thập thông tin

 

 

Tỉnh

 

-Lãnh đạo/chuyên viên phụ trách khám chữa bệnh phòng Kế hoạch, phòng Nghiệp vụ

 

 

Tìm hiểu thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của các trạm y tế trên địa bàn huyện

 

 

Định tính – Mẫu hướng dẫn thảo luận nhóm

 

 

Huyện

 

- Lãnh đạo Trung tâm y tế/bệnh viện

 

 

- Lãnh đạo phòng y tế

 

 

- Lãnh đạo các phòng kế hoạch, nghiệp vụ, tổ chức…

 

 

Tìm hiểu thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của các trạm y tế trên địa bàn huyện

 

 

Định tính – Mẫu hướng dẫn thảo luận nhóm

 

 

 

-Toàn bộ các trưởng TYT trên địa bàn huyện;

 

 

- Các cán bộ y tế của  TYT

 

 

Thu thập các số liệu về hoạt động KCB của các  TYT

 

 

Định lượng – Biểu mẫu số liệu hoạt động KCB của TYT

 

 

Khảo sát nhu cầu đào tạo liên tục

 

 

Định lượng – Bộ phiếu khảo sát

 

 

Tìm hiểu thực trạng hoạt động KCB: các thuận lợi, khó khăn, mặt mạnh, mặt hạn chế...

 

 

Định tính – Mẫu hướng dẫn thảo luận nhóm

 

 

Người dân

 

 

Tìm hiểu thực trạng cung ứng và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân xã

 

 

Định tính – Mẫu hướng dẫn thảo luận nhóm

 

 

 


 

 

3.2.2.1. Thu thập số liệu định tính

 

Nghiên cứu này dự kiến sử dụng phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu đối với cán bộ y tế và các đối tượng có liên quan. Các cuộc thảo luận nhóm được tiến hành dựa theo nội dung hướng dẫn phỏng vấn.

 

 

Thảo luận nhóm với cán bộ y tế ở các tuyến huyện, xã mục đích tìm hiểu thực trạng hoạt động và những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ chức năng khám chữa bệnh. Thảo luận nhóm cũng nhằm mục đích khảo sát nhu cầu và hình thức đào tạo liên tục của các y bác sỹ tuyến xã.

 

 

¨       Tuyến huyện: 1 cuộc thảo luận nhóm với lãnh đạo và cán bộ TTYT huyện và phòng y tế (1 cuộc/2 huyện/1 tỉnh).

 

 

¨       Tuyến xã:

 

 

Tổ chức thảo luận nhóm với tất cả các trưởng trạm y tế và các y bác sỹ điều trị của tất cả các xã trên địa bàn huyện tại TTYT/Bệnh viện huyện (1 cuộc/2 huyện/1 tỉnh).

 

 

Tổ chức thảo luận nhóm với toàn bộ các cán bộ y tế của 01 TYT xã tại TYT (1 cuộc/1 TYT xã/2 huyện/1 tỉnh).

 

 

 Tổ chức thảo luận nhóm với người dân về tình hình khám chữa bệnh của TYT của 01 TYT xã tại TYT (1 cuộc/1 xã/2 huyện/1 tỉnh).

 

 

3.2.3.2. Thu thập số liệu định lượng

 

¨       Thu thập thông tin về hoạt động khám chữa bệnh của TYT xã bằng biểu mẫu thu thập số liệu nhằm thu thập các số liệu liên quan tới hoạt động khám chữa bệnh chung của TYT: nhân lực cho KCB, số lượt khám bệnh chung, số lượt khám thẻ BHYT, số lượt chuyển tuyến, bố trí thời gian dành cho khám chữa bệnh của các y, bác sỹ TYT, một số bệnh thường gặp tại TYTX, một số dịch vụ khám chữa bệnh TYT có khả năng cung cấp cho người dân … (15-30 TYT/1 huyện x 2 huyện/tỉnh). 

 

 

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

 

 

                                                             i.      Phương pháp xử lý số liệu định tính

 

 

¨       Kết quả của từng cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu sẽ được xử lý theo phương pháp mã hóa mở.

 

 

                                                           ii.      Phương pháp xử lý số liệu định lượng

 

 

¨       Thông tin định lượng thu được từ khảo sát sẽ được làm sạch, nhập vào máy bằng phần mềm Epi-Data và được phân tích bằng chương trình STATA 9.0.

 

 

¨       Phương pháp phân tích chỉ số Chronbach anpha được áp dụng nhằm đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ trắc nghiệm chuyên môn điều trị.

 

 

¨       Việc xây dựng mô hình bệnh tật các bệnh thường gặp tại tuyến xã được xây dựng bằng phương pháp thống kê 10 bệnh thường gặp nhất tại các TYT, sau đó tổng hợp chung các mặt bệnh thường gặp của toàn bộ các TYT trên địa bàn 4 tỉnh dựa trên tần số xuất hiện các bệnh của từng TYT.

 

 

B . PHƯƠNG PHÁP KHỐNG CHẾ SAI SỐ

 

 

¨       Công cụ nghiên cứu bao gồm: hướng dẫn phỏng vấn sâu, hướng dẫn thảo luận nhóm, bảng hỏi được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu.

 

 

¨       Trước khi điều tra, Bộ công cụ được thử nghiệm tại một huyện để kiểm tra tính phù hợp các câu hỏi và mức độ chấp nhận của các y bác sỹ.

 

 

¨       Các nghiên cứu viên, cộng tác viên của Hội KHKTYTVN là các bác sỹ của trường Đại học Y Hà Nội trực tiếp điều tra.

 

 

¨       Việc đánh giá trình độ chuyên môn của các y, bác sỹ được giám sát chặt chẽ. Đề kiểm tra được tráo các câu hỏi thành 4 bộ đề nhằm hạn chế việc trao đổi giữa các CBYT.

 

 

¨       Dữ liệu được làm sạch trước khi phân tích.

 

 

¨       Các phiếu trả lời được nhập và chấm điểm bằng máy tính

 

 

 KẾT QUẢ      

 

b.     Thực trạng công tác khám chữa bệnh của trạm y tế.

 

i. Thực trạng công tác khám chữa bệnh qua khảo sát sổ sách.

 

Kết quả khảo sát thực trạng công tác chuyên môn khám chữa bệnh của TYT ở 4 tỉnh cho thấy hầu hết các TYT đều thực hiện công tác khám chữa bệnh. Tuy nhiên công việc này được thực hiện rất khác nhau tại các TYT. Khảo sát tình hình KCB của các TYT trong 3 tháng đầu năm 2012 qua nghiên cứu sổ sách thể hiện kết quả trong bảng dưới đây.

 

 

Bảng 4.1. Một số chỉ số hoạt động khám chữa bệnh của trạm y tế ở 4 tỉnh nghiên cứu

 

 

Chỉ số khám chữa bệnh

 

 

Trung bình

 

 

Độ lệch chuẩn

 

 

Khoảng dao

 

 

động

 

 

Số lượt KCB trung bình/tháng

 

 

773.6

 

 

1237.6

 

 

66.7

 

 

6481.3

 

 

Số thẻ BHYT đăng ký tại TYT

 

 

2521.7

 

 

2537.0

 

 

0

 

 

12000

 

 

Số lượt khám BHYT trung bình/tháng

 

 

475.7

 

 

756.8

 

 

0

 

 

5760

 

 

Số lượt bệnh nhân chuyển tuyến trên (quý 1)

 

 

99.5

 

 

103.8

 

 

0

 

 

400

 

 

Tổng số ca sinh tại TYT (quý 1)

 

 

14.5

 

 

24.2

 

 

0

 

 

130

 

 

 

 

 

 

Trung bình các TYT thực hiện KCB cho khoảng 773 lượt  người. Có TYT hầu như không có người bệnh đến, trung bình chỉ có 1-3 người/ngày. Theo khảo sát, trung bình các TYT khám BHYT cho 476 bệnh nhân/tháng. Có 6 TYT không thực hiện KCB BHYT. Trong quý 1 năm 2012, trung bình các TYT chuyển tuyến cho gần 100 người lên KCB ở các tuyến trên.

 

 

Trung bình các TYT đỡ đẻ cho 14.5 ca trong quý 1/2012. TYT đỡ đẻ nhiều nhất được 130 ca. Có 25/97 TYT không thực hiện đỡ đẻ tại TYT. Nhiều TYT từ đầu năm 2012 chỉ đỡ đẻ một vài ca.

 

 

Tổng hợp mô hình bệnh tật 10 bệnh phổ biến nhất của các TYT cho thấy các bệnh thường gặp tại TYT là bệnh viêm đường hô hấp (viêm phế quản, viêm họng, cảm cúm, viêm amydal... ), viêm xoang, bệnh tiêu chảy, tăng huyết áp, viêm khớp, viêm loét dạ dày tá tràng, bệnh thần kinh, viêm dây thần kinh, dị ứng, rối loạn tiêu hóa, rối loạn tuần hoàn não, đái tháo đường, rối loạn tiền đình, da liễu, bệnh phụ khoa v.v. Do việc ghi chép bệnh tật dựa hoàn toàn vào sổ khám bệnh nên các TYT đều gặp khó khăn trong việc tổng hợp mô hình bệnh tật.

 

 

ii. Công tác khám chữa bệnh của trạm y tế nhìn từ góc độ cơ quan y tế tuyến huyện.

 

Tại các huyện được khảo sát, mô hình tổ chức y tế tuyến huyện không giống nhau nên việc nắm bắt thông tin và quản lý công tác khám chữa bệnh ở tuyến xã có những khó khăn nhất định. Mối liên kết giữa TYT, TTYT huyện và bệnh viện huyện ở một vài nơi chưa chặt chẽ nên công tác KCB ở một số TYT chưa được thực hiện tốt.

 

 

Đánh giá về năng lực KCB, theo ý kiến của BS trưởng phòng y tế một huyện: “nhìn chung chất lượng chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu KCB cho nhân dân”. Bác sỹ trưởng phòng khám của BVĐK huyện cho biết: “Những mặt bệnh thường đến phòng khám là các bệnh đường tiêu hóa, các bệnh đường hô hấp của trẻ em. Đa số người bệnh đi thẳng đến bệnh viện huyện mà không qua trạm y tế xã, chiếm khoảng 50%". Nguyên nhân chính của tình trạng dân không qua TYT đều được các bác sỹ của bệnh viện và phòng y tế thống nhất là do "dân chưa thật tin tưởng vào trình độ chuyên môn của các y sĩ đang công tác tại các trạm y tế xã do không được đào tạo và cập nhật những kiến thức thường xuyên".

 

 

-        Thảo luận nhóm cán bộ y tế bệnh viện huyện miền núi phía bắc:

 

Tìm hiểu về công tác sản khoa ở các TYT, bác sỹ trưởng khoa sản BVĐK huyện miền núi phía bắc cho biết: "Năm 2011 tại bệnh viện huyện có 152 ca đẻ, tại các trạm y tế xã có 44 ca và có khoảng 20% sản phụ đẻ tại nhà. Công tác sản khoa tại một số TYT thực hiện chưa tốt. Nguyên nhân chủ yếu là kĩ năng đỡ đẻ của một số cán bộ tại trạm y tế xã hạn chế. Nhiều người học xong không làm được. Một số y sĩ đa khoa được đào tạo định hướng sản nhi trong thời gian 3 tháng là quá ít, đặc biệt chưa được thực hành trên các sản phụ nên khi về các trạm y tế xã chưa đứng độc lập được. Người dân đến thấy không tin tưởng nên họ lại về đẻ tại nhà".

 

     Phỏng vấn sâu trưởng khoa sản BVĐK huyện :

 

Tại các TYT xã của huyện Bạch Thông đều tổ chức khám chữa bệnh cho người dân hàng ngày. Các bệnh chủ yếu thường gặp tại TYT là các bệnh của hệ thống hô hấp như viêm mũi, họng, viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản; các bệnh tiêu chảy đối với trẻ em; các bệnh đau dạ dày, đau đầu, đau xương khớp đối với người già. Hầu hết các bệnh cấp cứu, các trường hợp sản khoa đều đến thẳng bệnh viện huyện. Tìm hiểu sâu các nguyên nhân giải thích cho đối tượng chủ yếu của các TYT là người già và trẻ em, bác sỹ phó trưởng khoa ngoại sản cho biết: "Năm 2011 toàn huyện có tổng số 512 ca đẻ, trong đó có 502 ca đẻ có cán bộ y tế đỡ. Tại bệnh viện huyện có 179 ca đẻ, chỉ có 2 TYT xã có sản phụ đẻ tại chỗ, tuy nhiên chỉ rất ít 1-2 ca/năm. Số phụ nữ khám phụ khoa tại TYT xã cũng hết sức ít, nguyên nhân chính là người bệnh chưa tin tưởng vào trình độ chuyên môn của cán bộ y tế xã”. Đánh giá về chuyên môn sản khoa của TYT, BS cho biết thêm: "Kiến thức chuyên môn hổng nhiều, đặc biệt kỹ năng thực hành yếu, nhiều nữ hộ sinh tại TYT xã hiện tại không cắt và khâu được tầng sinh môn”.

 

Phỏng vấn sâu phó trưởng khoa ngoại sản BVĐK huyện miền núi phía bắc:

 

Đánh giá về kỹ năng chuyên môn điều trị tuyến xã, một bác sỹ trưởng khoa cho biết: "Kỹ năng chẩn đoán của y tế xã còn yếu. Có TYT không biết chẩn đoán và không biết ghi như thế nào. Một số giấy giới thiệu chuyển viện từ TYT xã không có chẩn đoán ghi chẩn đoán bệnh gì mà chỉ ghi triệu chứng người bệnh mô tả, đặc biệt các bệnh chuyên khoa răng, mắt chỉ ghi là đau răng, nhức mắt...”

 

          Thảo luận nhóm cán bộ y tế bệnh viện huyện

 

Các TYT của huyện Thuộc Tây Nguyên được cung cấp khá đầy đủ các trang thiết bị y tế nhờ có dự án HEMA. Mô hình bệnh chủ yếu ở tuyến xã là bệnh hô hấp, tiêu hóa, bệnh viêm phổi trẻ em, lao. Trung bình một ngày trạm y tế xã khám chữa bệnh cho 7-10 bệnh nhân. Toàn bộ người dân ở địa phương được Nhà nước hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế 100%. Tuy xã nào cũng có TYT nhưng theo ý kiến của lãnh đạo TTYT huyện thì "người dân vẫn thường dùng phương pháp chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian hoặc cúng bái. Người bệnh đến khám tại trạm y tế vẫn thường xin chuyển lên BV tuyến trên do không tin tưởng y bác sỹ tuyến xã. Bệnh cấp cứu ngoại khoa người dân vẫn còn tự mua thuốc về tự điều trị, không khỏi mới đến trạm y tế hoặc lên bệnh viện huyện". Ý kiến của các bác sỹ bệnh viện huyện cho biết: "Hoạt động sản nhi cũng chỉ thực hiện được ở mức khá hạn chế. Xã nhiều nhất có sản phụ đến trạm sinh đẻ khoảng 20 sản phụ một năm. Người dân vẫn còn phong tục sinh đẻ tại nhà và được nhân viên y tế thôn bản phát túi đẻ sạch".

 

 

Hoạt động KCB của các TYT của huyện khác được các lãnh đạo và bác sỹ của TTYT huyện đánh giá tích cực hơn. Trung bình một tháng người dân đến KCB tại TYT khoảng 400-600 lượt. Các bệnh cơ bản chủ yếu là viêm đường hô hấp, tiêu chảy, sốt cảm cúm. Huyện có 4/8 TYT không có phụ nữ đến sinh đẻ tại trạm.

 

 

Nhìn chung, các TYT xã đều tổ chức khám chữa bệnh cho người dân hàng ngày. Các bệnh thông thường được khám thuộc hệ thống hô hấp như viêm mũi, họng, viêm đường hô hấp trên và các bệnh tiêu chảy đối với trẻ em, các bệnh viêm phế quản, đau dạ dày, đau đầu, đau xương khớp đối với người già. Mặc dù các TYT đều tổ chức KCB nhưng vấn đề chất lượng KCB được đặt ra do huyện gặp khó khăn về nhân lực y tế. Trưởng phòng y tế huyện cho biết: "Huyện có 6 xã có dự án nên trong những năm qua được đầu tư khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo, chính quyền huyện rất quan tâm đến các hoạt động  y tế. Năm 2011 tổng số người khám tại các TYT xã toàn huyện là 61.114 lượt. Tuy nhiên y tế xã cũng gặp khó khăn đặc biệt là chất lượng nhân lực, từ năm 2005 không tuyển được bác sỹ nào về công tác tại huyện, chưa nói đến xã”.

 

 

Đối với hoạt động CSSKSS, theo báo cáo hầu hết các TYT xã đều tổ chức đỡ đẻ tại trạm như năm 2011, hai TYT xã Nam Phong, Bắc Phong có khoảng 50 sản phụ đẻ tại trạm, TYT xã Yên Thượng có số sản phụ đẻ ít khoảng 20 trường hợp. Có TYT không có trường hợp nào sinh tại trạm như TYT xã. Lý do người dân không đến sinh tại TYT nữa mặc dù vẫn đầy đủ các dụng cụ sản khoa là do người dân không tin tưởng vào trình độ chuyên môn của y tế xã. Lãnh đạo bệnh viện huyện đưa ra nhận xét: “Trình độ chuyên môn của y, bác sỹ công tác tại các TYT xã còn hổng khá nhiều, ví dụ một số nữ hộ sinh của TYT xã không tiên lượng được cuộc đẻ nên chuyển viện chậm. Các trường hợp cấp cứu ngoại khoa hầu như không làm được gì, một số giấy chuyển viện không có chẩn đoán mà ghi triệu chứng hoặc thậm chí bỏ trống. Kết quả là số người bệnh lên thẳng bệnh viện huyện khá nhiều, sau đó về lại TYT xã xin giấy giới thiệu cho đủ thủ tục”.

 

Bệnh viện không quản lý toàn diện các TYT nhưng vẫn giám sát quản lý về mặt chuyên môn. Bệnh viện tổ chức giao ban mỗi quý 1 lần với các TYT xã, cập nhật và thông báo hoạt động khám chữa bệnh cho các TYT. Lãnh đạo bệnh viện huyện đưa ra một số nhận định: "Một số xã chất lượng chuyên môn chưa tốt, thể hiện tỷ lệ chẩn đoán bệnh không đúng cao, một số xã làm được nhưng không làm, kể cả xã có bác sỹ, thể hiện mỗi tháng chỉ khám cho được vài chục người. Tỷ lệ người bệnh đến thẳng bệnh viện cao khoảng 75%, đặc biệt các xã chung quanh huyện tỷ lệ này lên đến 90%. Các lĩnh vực yếu là sản, nhi. Nhìn chung người dân chưa tin tưởng vào năng lực chuyên môn của TYT xã, bên cạnh đó là thiếu các phương tiện trang thiết bị, đồng thời một số thuốc cũng thiếu".

 

 

iii. Công tác khám chữa bệnh của trạm y tế xã nhìn từ góc độ người dân.

 

Nghiên cứu đã tìm hiểu công tác khám chữa bệnh của trạm y tế xã thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm người dân. Nhìn chung, người dân không đánh giá cao năng lực chuyên môn của các TYT. Ý kiến một số người dân cho biết:

 

 

Tôi thường đến thẳng bệnh viện điều trị, có đến TYT xã cũng chỉ để xin giấy giới thiệu chuyển xuống bệnh viện huyện khám thôi. Năm trước nữa(2010) tôi phải đi nằm viện 6 lần cũng đều chỉ qua TYT xã để lấy giấy giới thiệu. Lý do của tôi không khám ở TYT là do TYT xã chỉ có y sỹ,  không đủ thuốc, không đủ phương tiện như chỉ có mỗi máy đo huyết áp nên tôi không tin tưởng TYT xã mà phải xuống bệnh viện huyện khám.

 

PVS người dân nam 70 tuổi.

 

 

"Tôi đến TYT được chẩn đoán là sỏi thận. Sau khi điều trị tại TYT xã 1 buổi không thấy đỡ, tôi xin xuống khám tại bệnh viện huyện và được chẩn đoán là viêm bàng quang. Tôi thấy chất lượng khám của TYT xã có vấn đề, mọi người chỉ khám qua loa, tôi thiếu tin tưởng vào TYT".

 

 

Người dân nam giới, 45 tuổi.

 

 

"…Tôi đã đi điều trị viêm phổi, tôi đến thẳng bệnh viện không qua TYT xã vì không tin tưởng vào trình độ chuyện môn của trạm…"

 

Người dân nữ giới, 58 tuổi.

 

 

Bên cạnh đó, một số người dân đánh giá khá tốt vào công tác KCB tại tuyến xã:

 

"Tôi thấy TYT xã tôi chỉ có y sỹ thôi nhưng cũng khám tốt. Người dân tin tưởng đến khám đông". Tôi đến khám mọi người bảo bệnh tôi vượt quá khả năng của xã nên phải chuyển lên viện. Với các bệnh thông thường khác thì TYT khám tốt và cấp thuốc đều"

 

 

Người dân nam giới, 55 tuổi.

 

 

Nhìn chung, các ý kiến đánh giá công tác KCB của TYT rất đa dạng và khác nhau giữa các người dân vì điều này phụ thuộc vào từng TYT và từng cá nhân đánh giá. Một người dân có nhận xét: “TYT xã tôi có bác sỹ nên đông người bệnh đến khám, thái độ phục vụ tốt”. Một người dân nam giới, 69 tuổi có ý kiến tương tự: "TYT xã có đông người dân đến, cá nhân tôi cứ 3 tháng ra TYT xã 1 lần để kiểm tra huyết áp, thái độ phục vụ tốt".

 

 

"Tôi thấy TYT có thầy thuốc tốt, lại có cả các máy móc hiện đại nữa nên người dân xã tôi vẫn thường đến TYT khám. Mọi người điều trị các bệnh thông thường cũng khỏi".

 

 

Người dân nữ giới 48 tuổi.

 

 

Một số ý kiến khác của người dân không sử dụng dịch vụ KCB tại TYT do "TYT không đủ thuốc điều trị, hoặc bệnh vượt quá khả năng điều trị của TYT". Một vài người dân khác có ý kiến về tinh thần phục vụ của TYT:

 

 

 BÀN LUẬN

 

e. Thực trạng công tác khám chữa bệnh của trạm y tế.

 

 

Toàn bộ các TYT đều thực hiện công tác khám chữa bệnh, tuy nhiên công việc này được thực hiện rất khác nhau tại các TYT phụ thuộc cơ sở hạ tầng, TTBYT và đặc biệt phụ thuộc vào nhân lực của từng TYT. Có những trạm hầu như không có người bệnh đến, trung bình chỉ có 1-3 người/ngày, trong khi có những TYT ở Kiên Giang KCB cho 100-200 lượt người/ngày. Một số TYT không đủ điều kiện KCB BHYT nên chắc chắn người dân như người nghèo, người cao tuổi, trẻ em... sẽ phải đi xa hơn để KCB. Việc thực hiện chức năng điều trị sẽ giúp cho người dân tăng cường khả năng tiếp cận DVYT. Tuy nhiên trên thực tế, hiện tượng người dân vượt tuyến điều trị và bỏ qua tuyến xã là tình trạng phổ biến. Lý do lớn nhất là người dân không tin tưởng vào chất lượng điều trị của TYT. Mặc dù nhiều TYT được trang bị đầy đủ các TTB như bàn đẻ, dụng cụ sản khoa... nhưng cả năm không có phụ nào đến đẻ, gây lãng phí đầu tư và TTB mau hỏng do không được sử dụng thường xuyên. Việc một TYT có vài ba phụ nữ đến sinh đẻ tại TYT còn nguy hiểm hơn do CBYT không được thực hành thường xuyên nên kiến thức và kinh nghiệm xử trí mai một dần. Các TTB ít được dùng nên phòng ốc, bàn đẻ, dụng cụ... cũng có nguy cơ nhiễm khuẩn cao hơn các TTB được sử dụng thường xuyên.

 

 

Tình trạng người dân ít sử dụng DVYT ở TYT sẽ dẫn đến "vòng xoáy suy giảm chất lượng điều trị". Người dân đến ít dần, y bác sỹ ít được cọ sát công việc, chuyên môn kém dần đi, dân càng ít đến nên kiến thức càng ít được vận dụng, kinh nghiệm ít được tích lũy, TTBYT ít dùng, mau han gỉ, nhanh hỏng, nhanh xuống cấp => dân càng không tin tưởng chất lượng điều trị tuyến xã => vượt tuyến => quá tải tuyến trên. Do dân không tin tưởng chất lượng tuyến xã nên ngày càng khó thu hút cán bộ có trình độ về làm việc tại TYT xã. Những hạn chế về năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất là nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dân bỏ đơn vị y tế gần gũi nhất của cộng đồng vượt lên tuyến trên.

 

Đánh giá về công tác KCB tại tuyến xã, phía các cơ quan quản lý TYT là TTYT huyện hoặc bệnh viện huyện và từ phía người dân đa số đều cho rằng chất lượng điều trị không cao. Kết quả này là dễ hiểu và cũng phù hợp với nhận định của nhiều nghiên cứu khác

[1]. Tâm lý người bệnh ai cũng muốn được đến cơ sở y tế tốt hơn để điều trị, vì thế chuyện vượt tuyến, trái tuyến dẫn đến quá tải cho tuyến trên ngày càng trở nên phức tạp. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, hiện tượng tâm lý "Người bệnh không tin vào y tế cơ sở" khá phổ biến. Mặc dù khám chữa bệnh ở trạm y tế gần và thuận lợi nhưng TYT xã không phải là ưu tiên lựa chọn hàng đầu của người dân. Vì dân không đặt nhiều niềm tin vào công tác điều trị của TYT cho nên thực trạng hoạt động KCB ở tuyến cơ sở khó đẩy mạnh được.

 

 

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số các TYT xã đều tổ chức khám chữa bệnh cho người dân hàng ngày. Các bệnh thông thường được khám thuộc hệ thống hô hấp như viêm mũi, họng, viêm đường hô hấp trên và các bệnh tiêu chảy đối với trẻ em, các bệnh viêm phế quản, đau dạ dày, đau đầu, đau xương khớp đối với người già. Trên thực tế, một số TYT của tỉnh Kiên Giang đã được đầu tư tốt hơn về cơ sở vật chất, con người nên đã mở rộng quy mô và các loại hình dịch vụ KCB cung cấp cho người dân. Nhiều TYT được đầu tư tương đương với PKĐKKV. Các TYT thường có khuôn viên rộng rãi, có TYT có 20 phòng làm việc, có ghế răng và các trang thiết bị cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh như máy huyết học, máy siêu âm… Một số TYT có các bác sỹ được đào tạo các chuyên ngành từ trường ĐH Y dược Cần Thơ, góp phần tạo nên "thương hiệu" cho các TYT và thu hút đông người dân đến khám, có những TYT thực hiện KCB cho gần 200 lượt người dân/ngày. Đây là các nét tích cực trong hoạt động điều trị của tuyến xã. Như vậy thực trạng công tác KCB có sự khác biệt rõ rệt giữa các tỉnh và các vùng kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề cần xem xét là chất lượng các dịch vụ như siêu âm ở TYT được thực hiện như thế nào? Để đánh giá được thực trạng các hoạt động chẩn đoán hình ảnh như vậy cần các nghiên cứu sâu hơn tiếp theo.

 

 

 

 

 

 

 

[1] Trần Thị Mai Oanh và cộng sự, Đánh giá việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của trạm y tế xã khu vực miền núi, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế, Hà Nội 2011

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung