Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Phát triển BHYT ở nước ta nhìn từ kinh nghiệm của cộng hòa Liên bang Đức  (20/09/2012)
Xây dựng hệ thống thanh toán kiểu gói dịch vụ theo DRD. Đây là phương thức hiệu quả nhất cho đến nay. Kiểu thanh toán dựa vào chi phí thưc tế đòi hỏi các nguồn lực lớn về tài chính và nhân lực quản lý trong khi mức độ minh bạch không cao. BHYT không thể kiểm soát hết được chi phí của từng bệnh nhân nên sự thất thoát là rất lớn. Tuy nhiên ta không thể xây dựng chỉ một hệ thống cho toàn bộ các bệnh viện được do tính đặc thù của ngành y tế nước ta. Với đặc điểm là 2 cấp quản lý: Cấp TW và cấp địa phương. Ở TW là Bộ Y tế có nhiệm vụ xây dựng các cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, định mức và chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô. Ở địa phương, sở Y tế có nhiệm vụ tham mưu cho UBND tỉnh và tổ chức thực hiện. Vì vậy, ta nên xây dựng hệ thống DRG cho các bệnh viện địa phương trên địa bàn tỉnh, TP. Qua đó từng bước hệ thống hóa công tác quản lý chuyên môn theo quy trình công việc, hướng tới việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng chăm sóc sức khỏe.

PHÁT TRIỂN BHYT Ở NƯỚC TA NHÌN TỪ KINH NGHIỆM CỦA CỘNG HÒA LIÊN BANG  ĐỨC

 

                                                                                           TS. Dương Huy Liệu

 

          Ở Cộng hòa Liên Bang Đức, Bảo hiểm Y tế ( BHYT) là bắt buộc đối với toàn dân và có nhiều công ty BHYT ( độc lập) được tham gia trong thị trường chăm sóc sức khỏe ( CSSK). Do đó đã tránh được sự độc quyền của quỹ BHYT. Tỷ lệ  người dân tham gia BHYT đạt 90% dân số tham gia BHYT nhà nước do khoảng mười công ty BHYT quản lý. Khoảng 9% dân số là những người giàu tham gia BHYT tư nhân trong thị trường này.

          Trong thị trường này, bệnh nhân không phải trả tiền trực tiếp cho bệnh viện và không quan tâm đến chi phí của dịch vụ. cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm y tế có quyền chấm dứt hợp đồng với các bệnh viện không đạt tiêu chuẩn và vi phạm hợp đồng. Cơ quan này kiểm soát không những hoạt động chuyên môn thông qua một hệ thống văn bản pháp quy quy định chặt chẽ về hoạt động chuyên môn của hệ thống bệnh viện – hệ thống DRG ( Diagnosio R elated Group ) mà còn giám sát các chi phí của bệnh viện đối với bệnh nhân. Đây là kết quả của quá trình thống kê một cách hệ thống về chi phí y tế cho các nhóm bệnh viện trong toàn nước Đức. Toàn bộ chi phí điều trị, ngày nằm viện được tính một cách khoa học dựa trên các dữ liệu có được từ hoạt động thống kê y tế. Các nhóm bệnh tương tự như nhau sẽ được BHYT thanh toán theo một gói chi phí cố định, tất nhiên có hệ số điều chỉnh cho các trường hợp phức tạp. Việc điều trị nhờ đó thống nhất hơn và chi phí trở nên minh bạch hơn. Sự cạnh tranh diễn ra một cách tương đối lành mạnh ở các nhà cung cấp dịch vụ y tế nhằm có được hợp đồng với quỹ BHYT, cạnh tranh giữa các quỹ BHYT với nhau trong việc thu hút người mua BHYT. Bệnh nhân BHYT không trực tiếp chi trả chi phí và hầu như được thanh toán không hạn chế trong danh mục dịch vụ được phép chi trả. Do đó, tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe được thực hiện tốt hơn.

          Tuy nhiên, từ đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Một trong số đó là các rủi ro về đạo đức. Các bệnh viện không phải chịu áp lực trực tiếp từ bệnh nhân nên sẵn sàng đưa ra các loại dịch vụ chưa thật sự hợp lý mà nếu bệnh nhân phải trả tiền túi thì chưa chắc việc này đã cần thiết. Rồi việc điều trị và thanh toán theo DRG cũng gây phiền toái cho hệ thống bệnh viện ở tính cứng nhắc của nó trong áp dụng các phác đồ điều trị. Việc điều chỉnh chỉ được thực hiện trong vòng một năm nên nhiều khi các bác sĩ gặp khó khăn trong việc áp dụng một phương pháp điều trị mới chưa nằm trong quy định của DRG.

          Có thể thấy thị trường sức khỏe với tính đặc thù của nó không thể tự vận hành một cách tự do theo quay luật của cung cầu. Nó cần một sự can thiệp vi mô của nhà nước. nhà nước cần đưa ra các chính sách nhằm tạo ra một khuôn khổ để từ đó, các chủ thể có quyền cạnh tranh một cách lành mạnh. Điều này càng đúng với thực tế của nước ta, một nước có nền kinh tế chuyển từ bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Tư duy bao cấp còn nặng nề trong cách quản lý của các cơ sở Y tế và cả người dân. Sự tham gia của khu vực y tế tư nhân và đầu tư nước ngoài chưa thực sự trở nên một đối trọng đối với mạng lưới y tế công lập. Tốc độ phát triển của nền kinh tế tương đối nhanh tạo ra một số người có thu nhập cao trong khi đại bộ phận nhân dân còn khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản. Sự khác nhau về yếu tố  văn hóa vùng miền cũng tao nên những rào cản nhất định cho việc triển khai các hoạt động y tế hướng vào cộng đồng.

Một số đề xuất:

          Một là: Cần nhanh chóng thực hiện BHYT toàn dân. Nhà nước, bảo hiểm XH Việt Nam và ngành y tế đã cố gắng thực hiện mục tiêu này. Có cân nhắc tới các rủi ro của an toàn quỹ thông qua các nhóm đối tượng nguy cơ khác nhau, nhằm bảo đảm tính thanh khoản của quỹ BHYT và nâng cao trách nhiệm của người tham gia BHYT. Có các thiết chế mạnh mẽ hơn trong việc kiểm soát và xử lý các đơn vị vi phạm quyền được tham gia BHYT của người lao động. Nhà nước có chính sách hiệu quả hơn đối với người nghèo, người cận nghèo trong việc hỗ trợ chi phí thông qua BHYT.

Hai là: Bên cạnh đó đã tới lúc chúng ta phải nhìn nhận lại mô hình tổ chức BHYT ở nước ta đã phù hợp chưa. Nên chăng cần có tổng kết chuyên đề về mô hình tổ chức BHYT ở Việt Nam từ khi ban hành nghị định 299 ND/CP cho tới nay để tìm ra một mô hình phù hợp nhất. Cá nhân tôi vẫn cảm thấy luyến tiếc khi chúng ta xóa bỏ các quỹ BHYT ở các địa phương và thực hiện tập trung  hóa toàn quốc quĩ BHYT, dẫn tới nhiều bất cập trong đó việc gắn kết giữa các cơ quan BHYT địa phương với hệ thống chính trị trở nên kém chặt chẽ hơn, quĩ BHYT ở các tỉnh nghèo có xu hướng phải “ bao cấp” ngược cho các tỉnh giàu…….

          Ba là: Xây dựng hệ thống thanh toán kiểu gói dịch vụ theo DRD. Đây là phương thức hiệu quả nhất cho đến nay. Kiểu thanh toán dựa vào chi phí thưc tế đòi hỏi các nguồn lực lớn về tài chính và nhân lực quản lý trong khi mức độ minh bạch không cao. BHYT không thể kiểm soát hết được chi phí của từng bệnh nhân nên sự thất thoát là rất lớn. Tuy nhiên ta không thể xây dựng chỉ một hệ thống cho toàn bộ các bệnh viện được do tính đặc thù của ngành y tế nước ta. Với đặc điểm là 2 cấp quản lý: Cấp TW và cấp địa phương. Ở TW là Bộ Y tế có nhiệm vụ xây dựng các cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, định mức và chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô. Ở địa phương, sở Y tế có nhiệm vụ tham mưu cho UBND tỉnh và tổ chức thực hiện. Vì vậy, ta nên xây dựng hệ thống DRG cho các bệnh viện địa phương trên địa bàn tỉnh, TP. Qua đó từng bước hệ thống hóa công tác quản lý chuyên môn theo quy trình công việc, hướng tới việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng chăm sóc sức khỏe.

          Như vậy, cạnh tranh là cần thiết cho sự phát triển nhưng nếu chỉ có cạnh tranh thôi thì thị trường sức khỏe sẽ đi đến chỗ khủng hoảng. Điều kiện tiên quyết cho thị trường này là phải xác lập trước hết một chính sách điều hào, để từ đó cạnh tranh sẽ thúc đẩy sự phát triển trong một khuôn khổ nhất định. Chính sách điều hòa cần phải được lập ra trên cơ sở các mục tiêu cần đạt được. Mục tiêu này không đơn giản là việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu bệnh nhân hay giảm giá thành, giảm thủ tục hành chính… Mục tiêu của chính sách điều hòa phải hướng đến mức độ cao hơn, chúng bao gồm các giá trị đạo đức như: Bình đẳng tiếp cận các dịch vụ y tế cho mọi công dân, tự chủ trong quản lý y tế, công bằng và an sinh xã hội      

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung