Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Thông tư 04 cách tiếp cận mới giá dịch vụ khám chữa bệnh  (04/09/2012)
Dịch vụ KCB cũng là hàng hóa, nhưng là hàng hóa đặc biệt vì nó liên quan tới an ninh xã hội và đã là hàng hóa thì chúng ta phải xem xét trên cả hai phương diện; chất lượng và giá cả . Chúng tôi hoan nghênh một số tỉnh đã phê duyệt giá dịch vụ KCB ở mức thấp, chỉ bằng 60 – 70% giá trần tối đa, người dân và BHYT sẽ được hưởng lợi từ giá dịch vụ y tế thấp. Nhưng ở góc độ chất lượng dịch vụ KCB, mức thu thấp như vậy đã đủ bù đắp chi phí chưa và nếu thiếu thì ngân sách nhà nước có hỗ trợ thêm không

 

                                                                 TS: Dương Huy Liệu

 

          Vừa qua liên Bộ y tế tài Chính đã ban hành thông tư liên tịch Số 04 / 2012/TTGB – BYT – BTC ban hành mức tối đa khung giá một số dịch vụ khám, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước. Theo thông tư này liên bộ đã ban hành mức tối đa khung giá 447 dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Đây là một cố gắng rất lớn của liên Bộ và BHXH Việt Nam sau rất nhiều nghiên cứu, họp bàn, thương thảo và cuối cùng thủ tướng Chính Phủ chấp thuận đề xuất của liên bộ.

          Tiếp theo đó, các địa phương ( Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW ) đã và đang xây dựng giá dịch vụ KCB của địa phương trình hội đồng nhân dân phê duyệt. Gần đây dư luận có những cách hiểu khác nhau về mức giá mà một số địa phương đã lựa chọn, trong đó cũng không ít ý kiến cho rằng một số tỉnh nghèo lại xây dựng giá dịch vụ KCB bằng hoặc thậm chí cao hơn các tỉnh, TP giàu hơn là không phù hợp. Để tìm hiểu vấn đề này sâu sắc hơn, chúng tôi xin giới thiệu một số nội dung của khung giá và thực tế mức chi tiêu trong KCB. Trước hết về khung giá 447 dịch vụ KCB, liên bộ đã chỉ ra làm 3 nhóm.

          Nhóm 1: Về khám bệnh: liên bộ đã chia ra làm 5 nhóm dựa vào hạng bệnh viện và trạm Y tế xã, trong đó cao nhất là các bệnh viện hạng đặc biệt và hạng I : Mức thu là 20.000 đồng/ lần khám. Thấp nhất là các trạm y tế xã 5.000 đồng / lần khám.

          Nhóm 2: Khung giá một ngày giường bệnh cũng được chi tiết hóa theo hạng bệnh viện và các chuyên khoa. Cao nhất là bệnh viện hạng đặc biệt, hạng I mức giá 150.000 / ngày / giường, hạng 4 hầu hết các bệnh viện huyện có mức giá 50.000 đồng / ngày / giường .

          Nhóm 3: khung giá các dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm : Giá các dịch vụ này được xác định trên nguyên tắc tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí trực tiếp cần thiết để thực hiện dịch vụ, chưa tính khấu hao tài sản cố định, tiền lương, chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị có giá trị lớn. Cụ thể gồm 3 yếu tố chi phí sau:

1.     Tiền thuốc, dịch truyền, máu, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế, hóa chất ( bao gồm chi phí kiểm tra, kiểm trứng các xét nghiệm) để thực hiện dịch vụ;

2.     Chi phí về điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý chất thải, vệ sinh môi trường, khử khuẩn để thực hiện dịch vụ;

3.     Chi phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị trực tiếp; mua thay thế công cụ, dụng cụ trực tiếp sử dụng để thực hiện dịch vụ;

Như vậy giá dịch vụ tính toán dựa trên 3 yếu tố trên, không dựa vào các yếu tố tỉnh nghèo hoặc giàu thậm chí ở các tỉnh thành phố giá thành dịch vụ kỹ thuật có thể còn thấp hơn vì tần xuất sử dụng dịch vụ cao hơn, máy móc hoạt động với công xuất cao hơn, vật tư háo, hóa chất xét nghiệm sử dụng tiết kiệm được nhiều hơn các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Còn giá khám bệnh và giá ngày giường bệnh đã phân theo hạng bệnh viện, các tỉnh miền núi, tỉnh nghèo được đầu tư thấp, ít Giáo Sư, Tiến Sỹ nên hầu hết các bênh viện là hạng 2,3, hạng 4 và thậm chí một số bệnh viện không được xếp hạng. Cho nên nếu có lựa chọn giá dịch vụ KCB gần kịch trần thì cũng chỉ trong giới hạn khung giá của hạng bệnh viện đó.  Ví dụ: Các bệnh viện đa khoa của các tỉnh, TP lớn thông thường là các bệnh hạng 1, giá khám bệnh là 20.000 đồng/ lần ; các bệnh viện đa khoa tỉnh ở các tỉnh nghèo thì hầu hết là Bệnh viện hạng 2, giá khám bệnh là 15.000đồng. Lần giả sử cả 2 loại bệnh viện này được duyệt giá ở mức tối đa thì giá một lần khám bệnh ở các bệnh viện đa khoa các TP lớn, các tỉnh có thu nhập khá cao hơn các tỉnh kia 25%. và rõ ràng người dân ở các tỉnh vùng núi, các tỉnh nghèo phải chi trả ít hơn 25%.

          Tôi đưa ra một số con số trên để chúng ta thấy rằng nếu một tỉnh nghèo đưa ra mức thu kịch trần của khung giá thì cũng nằm trong khung trần của hạng bệnh viện mà tỉnh đó đang có và  trên thực tế nó vẫn thấp hơn các tỉnh khác có các bệnh viện hiện đại hơn, thứ hạng cao hơn. Hãy nhìn vào số liệu thu về chi quỹ BHYT của các tỉnh năm 2011 sẽ càng thấy rõ hơn mức hưởng thu dịch vụ Y tế và qua đó mức chi tiêu cho dịch vụ KCB của người dân các tỉnh vùng núi, tỉnh nghèo còn rất khiêm tốn, Rất nhiều tỉnh vùng núi, tỉnh nghèo như Bắc Kan, Cao Bằng, Bình Phước, Đắc Nông, Kom Tum, Lai Châu, Sơn La vv…chi BHYT năm 2011 chỉ đạt 32% đến 49%. Do vậy các tỉnh nghèo đã dư quỹ khá nhiều. Trong khi đó nhiều tỉnh, Thành phố lớn lại âm quỹ. Hơn nữa chi phí chung cho một lần nằm viện của những người mắc cùng một loại bệnh ở các bệnh viện thuộc các tỉnh nghèo, thường thấp hơn nhiều ở các tỉnh giàu do ở đây thiếu máy móc hiện đại, sử dụng ít hơn các xét nghiệm và thuốc đắt tiền.         Do vậy lần này liên Bộ Y tế - Tài Chính đã ban hành khung giá mới chỉ có trần tối đa trên cơ sở tính đủ 3 yếu tố, không đưa ra sàn tối thiểu để tránh tình trạng các tỉnh nghèo thường nghĩ rằng mình là tỉnh nghèo nên lựa chọn giá dịch vụ ở sàn tối thiểu mà không biết rằng giá dịch vụ được xây dựng dựa trên 3 yếu tố mà các yếu tố này không khác nhau giữa các tỉnh. Tôi cho rằng cách đưa ra khung giá và các tính toán như thế này là rất phù hợp, rất thực tiễn và tạo điều kiện cho các tỉnh miên núi, tỉnh nghèo tính toán, cân đối cụ thể để giải quyết một mức giá dịch vụ phù hợp nhất, có lợi cho nhân dân và tạo điều kiện cho các cơ sở KCB có đủ kinh phí nâng cao chất lượng KCB.    

Dịch vụ KCB cũng là hàng hóa, nhưng là hàng hóa đặc biệt vì nó liên quan tới an ninh xã hội và đã là hàng hóa thì chúng ta phải xem xét trên cả hai phương diện; chất lượng và giá cả . Chúng tôi hoan nghênh một số tỉnh đã phê duyệt giá dịch vụ KCB ở mức thấp, chỉ bằng 60 – 70% giá trần tối đa, người dân và BHYT sẽ được hưởng lợi từ giá dịch vụ y tế thấp. Nhưng ở góc độ chất lượng dịch vụ KCB, mức thu thấp như vậy đã đủ bù đắp chi phí chưa và nếu thiếu thì ngân sách nhà nước có hỗ trợ thêm không ?. Nếu thu không đủ bù đắp chi phí sẽ ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ KCB . người dân và người bệnh sẽ không tin tưởng vào chất lượng dịch vụ của các bệnh viện này và tiếp tục vượt tuyến lên tuyến trên. Hậu quả và chi phí cơ hội sẽ tăng lên gấp bội và tổng chi phí cho một lần khám chữa bệnh sẽ tăng cao. Như vậy chúng ta chưa vội khen khi tỉnh A phê duyệt giá dịch vụ KCB thấp và cũng đường vội chê tỉnh B phê duyệt giá dịch vụ KCB cao mà phải xem xét trên cả hai phương diện giá cả và chất lượng. Tỉnh A phê duyệt giá dịch vụ KCB thấp thì với mức thu đó đã đủ  bù đắp chi phí bảo đảm chất lượng KCB chưa và nếu chưa thì tỉnh có giải pháp gì bảo đảm đủ kinh phí cho BV hoạt động với chất lượng tốt, người bệnh tin tưởng và không bỏ BV huyện nhà, tỉnh nhà để chạy lên thành phố KCB. Nếu chúng ta lựa chọn giá viện phí thấp thì chúng ta lại đi vào vòng xoáy của thiếu thốn: Chi ngân sách cho y tế thấp, thu viện phí thấp ► thiếu kinh phí KCB ► Chất lượng dịch vụ  KCB thấp  ► dân thiếu tin tưởng và khi KCB thì vượt tuyến ► Quá tải ở các BV tuyến trên.

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung