Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Những rào cản trong tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo – thực tiễn tại Thái Lan  (06/08/2012)
Tại Thái Lan, Chính phủ cũng đã chú trọng tới vấn đề chăm sóc y tế cho những nhóm dân cư thuộc nhóm lao động phi chính quy, trong đó có người nghèo. Trước năm 2003, một số cơ chế chăm sóc y tế đã được thực thi, thí dụ: Dự án Phúc lợi y tế cho nhân dân tập trung vào cung cấp dịch vụ y tế cho người nghèo, người cao tuổi và trẻ em. Tuy nhiên Dự án này đã không đạt đuợc mục tiêu hỗ trợ người nghèo vì thiếu kinh phí. Bộ Y tế Công cộng Thái Lan là cơ quan chủ chốt trong thực hiện cơ chế chăm sóc y tế toàn dân đã tiến hành một thí điểm tại 6 tỉnh vào tháng 4/2001 và tiếp theo đã mở rộng trên 15 tỉnh vào ngày 1/6/2001, và cuối cùng là tại tất cả các tỉnh trong năm 2002. Kết quả là đầu năm 2003, Chính phủ Thái Lan đã ban hành cơ chế ’30 bạt’, bao phủ 47,7 triệu người dân Thái lan (74.7% dân số toàn quốc) . Vào năm đó, nếu cộng thêm số người đã có thẻ BHYT do BHXH cung cấp thì chỉ còn 3,2 triệu người hoặc 5% tổng dân số không đuợc bao phủ bởi bất kỳ hình thức chi trả trước cho y tế.

 

Th.S. Đặng Bội Hương

Hội khoa học KTYT Việt Nam

 

Tại ViệT Nam trong những năm qua, Chính phủ đã đặc biệt quan tâm tới việc hỗ trợ người nghèo và các nhóm dân cư khó khăn trong khám chữa bệnh. QĐ 139/2002/QĐ-TTg được ban hành năm 2002 về khám, chữa bệnh cho người nghèo đã tạo tiền đề cho việc toàn bộ người nghèo và người dân tộc thiểu số vùng khó khăn được có thẻ BHYT và hưởng mức đồng chi trả thấp khi khám chữa bệnh. Năm 2012, QĐ 14/2012/QĐ-TTg lại cho phép các địa phương sử dụng nguồn NSNN để hỗ trợ người nghèo chi phí đi lại và ăn khi nội trú tại bệnh viện. Trên thực tế, trước khi QĐ 14 được ban hành, một số Dự án phát triển hệ thống y tế vùng đã có hoạt động hỗ trợ chi phí ăn, đi lại và một vài loại chi phí không được BHYT chi trả cho người nghèo và người dân tộc thiểu số với nguồn kinh phí từ vay nước ngoài hoặc viện trợ không hoàn lại (Dự án HICH, Mekong, HEMA, NUP). Theo đánh giá, tỉ lệ tiếp cận của đối tượng tại các vùng của các Dự án đều gia tăng sau khi có hoạt động hỗ trợ. Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm là trong số các đối tượng của Dự án, liệu những người nghèo nhất có thực sự được hưởng lợi hay không? Lý do là vì chính nhóm dân này lại là nhóm đối tượng đích mà chính sách hỗ trợ hướng tới để mang lại sự công bằng trong CSSK nhân dân.

Tại Thái Lan, Chính phủ cũng đã chú trọng tới vấn đề chăm sóc y tế cho những nhóm dân cư thuộc nhóm lao động phi chính quy, trong đó có người nghèo. Trước năm 2003, một số cơ chế chăm sóc y tế đã được thực thi, thí dụ: Dự án Phúc lợi y tế cho nhân dân tập trung vào cung cấp dịch vụ y tế cho người nghèo, người cao tuổi và trẻ em. Tuy nhiên Dự án này đã không đạt đuợc mục tiêu hỗ trợ người nghèo vì thiếu kinh phí. Bộ Y tế Công cộng Thái Lan là cơ quan chủ chốt trong thực hiện cơ chế chăm sóc y tế toàn dân đã tiến hành một thí điểm tại 6 tỉnh vào tháng 4/2001 và tiếp theo đã mở rộng trên 15 tỉnh vào ngày 1/6/2001, và cuối cùng là tại tất cả các tỉnh trong năm 2002. Kết quả là đầu năm 2003, Chính phủ Thái Lan đã ban hành cơ chế ’30 bạt’, bao phủ 47,7 triệu người dân Thái lan (74.7% dân số toàn quốc). Vào năm đó, nếu cộng thêm số người đã có thẻ BHYT do BHXH cung cấp thì chỉ còn 3,2 triệu người hoặc 5% tổng dân số không đuợc bao phủ  bởi bất kỳ hình thức chi trả trước cho y tế.

Năm 2007, ‘30 bạt’ tiến triển thành cơ chế miễn phí hoàn toàn cho dịch vụ y tế và có tên gọi mới là ‘UHS’. Một nghiên cứu năm 2003 cho biết có 90% dân đuợc bao phủ bới cơ chế UHS và khoảng 97% số mẫu (người) hài lòng với cơ chế này. Một nghiên cứu năm 2006 cũng cho biết có 91% người dân (trong nghiên cứu) muốn cơ chế này đuợc tiếp tục thực hiện. Gần đây, Ủy ban Phát triển kinh tế-xã hội quốc gia Thái Lan đã báo cáo rằng 95,7% dân số đã đuợc bảo hiểm về chăm sóc y tế. Mặc dù vậy,  trên thực tế vẫn còn khá nhiều người lao động thu nhập thấp, đặc biệt trong khối phi chính quy, không đuợc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc y tế mặc dù họ có quyền đuợc tiếp cận. Trong một nghiên cứu của Doane và công sự (2006),  71,6% của  415 người lao động là phụ nữ nghèo được phỏng vấn cho biết có thể tiếp cận với cơ chế UHS tại bệnh viện, 92,8% tiếp cận trung tâm y, và có 73% sử dụng dịch vụ tại trung tâm y tế cộng đồn. Như vậy vẫn còn khá nhiều người không có cơ hội tiếp cận.

Theo Doane và CS (2006), mặt tích cực của UHS là mang lại sự hài lòng vì không phải chi trả cho dịch vụ y tế cho nhiều người dân có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt khi mắc bệnh nặng chi phí cao nhưng lại không phải trả tiền túi. Tuy nhiên cơ chế này cũng còn một hạn chế quan trọng, đó là việc sử dụng dịch vụ còn ít. Nguyên nhân của tình trạng này được cho là do những rào cản sau:

1.      Phân biệt trong cung cấp dịch vụ:  Những người thuộc UHS nhận thấy dịch vụ y tế tốt hơn (thí dụ thuốc tốt hơn) đối với người không thuộc diện UHS.

2.      Chi phí đi lại: Người nghèo thường ở xa cơ sở y tế nên mặc dù dịch vụ y tế là miễn phí nhưng bản thân họ không có đủ tiền để đi tới bệnh viện. Giải pháp của nhiều người là mua thuốc tự chữa. Những người có thói quen đi khám tư nhân thường khá giả hơn và tiếp cận thông tin tốt hơn nên sớm biết về UHS, vì vậy họ cũng tiếp cận nhiều hơn người nghèo vì có khả năng chi trả cho đi lại.

3.      Bao cấp của bệnh viện: Chính phủ chỉ bao cấp rất ít cho bệnh viên tư nhân khi tham gia UHS, dẫn tới một số bệnh viện tư rút khỏi chương trình khiến số bệnh nhân tiếp cận bệnh viện công tăng lên, gây bất lợi cho việc quản lý và điều trị.

4.      Thiếu tin tưởng vào dịch vụ y tế công: Ngay nhiều người là lãnh đạo cũng không dùng dịch vụ theo UHS vì thiếu tin tưởng vào dịch vụ y tế cung cấp bởi các bệnh viện công. Nhiều người phàn nàn họ phải đợi lâu để được khám và lấy kết quả xét nghiệm. Trong điều tra trên, 85,5% của 228 người được phỏng vấn cho biết họ không sử dụng UHS và đã sử dụng y tế tư, 62,1% (của 87 người) không sử dụng y tế tư cho biết có sử dụng UHS. Kết quả này cho thấy khi người nghèo không thể tiếp cận UHS thì dịch vụ y tế ngoài công lập là lựa chọn của họ.

5.      Thiếu thông tin chính xác: Một số phụ nữ nghèo không biết rằng khi tham gia UHS họ có quyền được đến khám chữa bệnh tại Bangkok, dù gia đình họ đăng ký KCB tại quê nhà. Điều tra cho biết có khoảng 1,2% người được hỏi không có thẻ UHS. Một số người ngoại tỉnh ở Bangkok hiểu sai rằng vì không đăng ký hộ khẩu tại Bangkok nên không được tham gia UHS. Nhiều người không biết về quyền lợi mình được hưởng, thí dụ chỉ có 10% người tàn tật biết rằng họ có quyền được điều trị vật lý trị liệu.

6.      Bất cập về mặt thời gian: Một số bệnh viện cung cấp dịch vụ UHS rất đông và thời gian chờ đợi lâu. Điều này càng trầm trọng thêm khi một số bệnh viện tư nhân rút khỏi UHS.

7.      Cần các hỗ trợ khác để tiếp cận UHS: Những phụ nữ lao động nghèo không thể tiếp cận với UHS cần có sự hỗ trợ trong thực hiện các thủ tục hành chính để tiếp cận với dịch vụ này, thí dụ như viết đơn tham gia, nộp đơn…

Trong những bất cập nêu trên, có những vấn đề có thể giải quyết được mà không đòi hỏi nỗ lực quá lớn nhưng rất tiếc đã chưa được thực hiện, thí dụ như vấn đề thông tin, hỗ trợ hoàn thành thủ tục.

Trong suốt quá trình phát triển, dịch vụ y tế công của Thái Lan đã không ngừng đổi mới và ngày càng tiến bộ, song việc hưởng lợi từ những thành tựu đó của những người nghèo nhất vẫn luôn cần được quan tâm. Mặc dù về một vài khía cạnh, chính sách hỗ trợ người nghèo của nước ta đã có những điểm tiến xa hơn của Thái Lan, nhưng nhiều bất cập trong thực hiện chính sách cũng có thể đã và đang tồn tại ở nước ta như đã xảy ra tại Thái Lan. Vì vậy Việt Nam rất nên tìm hiểu sâu hơn về thực tiễn thực hiện UHS tại Thái lan để rút ra những bài học, đồng thời cần có những nghiên cứu sâu để tìm hiểu những rào cản trong tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo nói riêng và người có thẻ BHYT nói chung, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang tập trung cao độ vào mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân. 

_______________________________

 Nguồn:

-          Boonsom Namsomboon, Ph.D. HomeNet-Thailan. Universal Healtcare Scheme in Thailand: Barriers to Access by informal workers. Trích trong cuốn Prince Mahidol Award Conference 2012- Moving toward Universal Health Coverage-Health Financing Matters.

-          Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế. 8/2011. Luật Bảo hiểm y tế và lộ trình BHYT toàn dân.

-          Một số báo cáo giữa kỳ, cuối kỳ của các Dự án vùng như HICH, Mekong, HEMA, NUP.

 



Gọi là cơ chế ‘30 bạt’ vì bệnh nhân chỉ phải trả 30 bạt (0,75 USD) cho mỗi lần KCB.
 

NC của Puenpatom và Rosenman-2008

[3] Kết quả điều tra do Tổng cục thống kê Thái Lan vào tháng 6/2003

[4] Gần giống như TYT của Việt Nam -có BS và điều dưỡng viên chủ yếu thực hiện CSSKBĐ

[5]  Tại nhà cộng đồng của hoặc nhà của cán bộ y tế tự nguyện hỗ trợ cộng đồng với tiền bồi dưỡng ít ỏi, 1-2 USD/ngày

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung