Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Hệ Thống G - DRG tại CHLB Đức   (14/06/2012)
CHLB Đức bắt đầu áp dụng hệ thống thanh toán theo DRG vào năm 2003, dựa trên cơ sở điều chỉnh hệ thống DRG của Úc (AR-DRG ). Mới đầu DRG được áp dụng cho trường hợp nội trú, không phân biệt là BHYT nhà nước hay tư nhân. Tất cả bệnh nhân điều trị tại bệnh viện đều được thanh toán theo hóa đơn DRG. Sau giai đoạn 5 năm đầu, mọi bệnh viện trong cùng một bang đều phải áp dụng chung một cách thanh toán, do vậy, hệ thống DRG tại Đức đã được điều chỉnh khá nhiều và số lượng các nhóm DRG đã tăng lên nhanh chóng, đòi hỏi phải định nghĩa lại nhiều nhóm chẩn đoán. Các loại phí (điều trị) bổ sung cũng được áp dụng. Việc phân loại chẩn đoán và phác đồ điều trị được phát triển sâu hơn bằng cách tạo ra các mã mới. Chất lượng số liệu của hệ thống rất tốt nhờ sự chuẩn hóa trong tính toán.

HỆ THỐNG G – DRG TẠI CHLB ĐỨC

 

                                                                            Ths. Đặng Bội Hương

Phương pháp thanh toán cho bệnh viện theo nhóm chẩn đoán, gọi tắt là DRG (dianogsis related group) đã được áp dụng ở nhiều nước phát triển, trong đó có CHLB Đức... Hệ thống chi trả dựa trên DRG được coi là phương thức tốt để kiểm soát chi phí, nhờ tính minh bạch và nguồn thông tin rõ ràng. Tuy nhiên hiệu quả của phương thức này còn tùy thuộc vào cách phân bổ và thanh quyết toán của BHYT với bệnh viện, cùng với việc áp dụng nhiều biện pháp quản lý, kiểm tra giám sát, phát triển hệ thống máy tính, phần mềm chuyên ngành trong hệ thống y tế.

Theo luật, tại CHLB Đức mọi người dân đều phải tham gia BHYT. Năm 2009 có khoảng 90% dân số tham gia BHYT nhà nuớc. Chỉ có 10% dân số tham gia BHYT tư nhânhầu hết là những người có thu nhập rất cao. Trong tổng số 1649 bệnh viện ở Đức thì có 33% là bệnh viện công, 42% là bệnh viện phi lợi nhuận và 25% là bệnh viện tư. Các thày thuốc làm trong bệnh viện công không làm việc ngoài giờ. Vào năm 2009, số lượt nội trú trên toàn quốc vào khoảng 20 triệu.

CHLB Đức bắt đầu áp dụng hệ thống thanh toán theo DRG vào năm 2003, dựa trên cơ sở điều chỉnh hệ thống DRG của Úc (AR-DRG[1]). Mới đầu DRG được áp dụng cho trường hợp nội trú, không phân biệt là BHYT nhà nước hay tư nhân. Tất cả bệnh nhân điều trị tại bệnh viện đều được thanh toán theo hóa đơn DRG. Sau giai đoạn 5 năm đầu, mọi bệnh viện trong cùng một bang đều phải áp dụng chung một cách thanh toán, do vậy, hệ thống DRG tại Đức đã được điều chỉnh khá nhiều và số lượng các nhóm DRG đã tăng lên nhanh chóng, đòi hỏi phải định nghĩa lại nhiều nhóm chẩn đoán. Các loại phí (điều trị) bổ sung cũng được áp dụng. Việc phân loại chẩn đoán và phác đồ điều trị được phát triển sâu hơn bằng cách tạo ra các mã mới. Chất lượng số liệu của hệ thống rất tốt nhờ sự chuẩn hóa trong tính toán.

Hệ thống DRG  của Đức (G-DRG[2]) còn được sử dụng như một hệ thống tính cước, có nghĩa là mỗi một ca bệnh sẽ được tính chi phí trong vòng 1 tuần sau khi bệnh nhân ra viện. Mỗi một nhóm DRG[3] là thể hiện của một trọng sô chi phí (cost weight) nhân với một tỉ lệ sàn (base rate). Hiện nay, một tỉ lệ sàn chung được áp dụng cho mọi bệnh viện trong cùng một bang (nước Đức có 16 bang). Trong vòng vài năm tới, các tỉ lệ này sẽ được điều chỉnh để áp dụng chung cho toàn quốc.  

Đối với những dịch vụ đắt tiền (thí dụ hóa trị, hoặc cấy ghép động mạch chủ) có khoảng 150 loại phí bổ sung để trả thêm cho các nhóm DRG. Trong những điều kiện nhất định, bệnh viện địa phương và cơ quan BHYT có thể thương lượng khi cần thu phụ phí đối với một số cải tiến mới trong kỹ thuật điều trị (medical innovations). Vì giá dịch vụ của mỗi nhóm DRG đều được biết trước khi điều trị (tương tự nhu bảng giá bệnh viện) nên các bệnh viện phải tránh tính thêm quá nhiều phí bổ sung. Việc thương lượng về số lượng dịch vụ cho mỗi nhóm DRG và cho phí bổ sung được tiến hành hàng năm giữa đại diện của tất cả các cơ quan BHYT và một bệnh viện có uy tín tại địa phương.

Trường hợp bệnh viện có số lượng dịch vụ vượt quá số đã được thỏa thuận, hầu hết số phí thu được sẽ phải trả lại (returned-xuất toán). Nếu số lượng dịch vụ thấp hơn so với thỏa thuận, nhà cung cấp dịch vụ sẽ được chi trả theo một tỉ lệ thấp. Quy định này đã thúc đẩy việc xem xét cung cấp tài chính theo chi phí cố định và chi phí biến đổi (fixed costs and variable costs). Để làm việc đó, việc kiểm tra để hạn chế những yếu tố khuyến khích mở rộng dịch vụ ngoài tầm kiểm soát được thực hiện thường xuyên mà không cản trở những điều trị y tế cần thiết cho người bệnh. Ngoài ra, hiện nay CHLB Đức cũng đang tìm biện pháp làm giảm các yếu tố khuyến khích mở rộng các dịch vụ chọn lọc mà các công ty bảo hiểm y tế có thể thương lượng giảm giá với bệnh viện.

Khi hệ thống G-DRG được sử dụng như một hệ thống tính cước, việc cơ quan BHYT kiểm tra lại hóa đơn bệnh viện là cần thiết. Về cơ bản, mã hóa các chẩn đoán, phẫu thuật và can thiệp có thể ảnh hưởng tới việc phân bổ cho một nhóm DRG và do vậy ảnh hưởng tới thu nhập từ ca điều trị. Theo đó, sự cần thiết phải tuân thủ theo hướng dẫn mã hóa đang được xem xét lại. Mặt khác, hoạt động đánh giá hàng năm đối với hệ thống G-DRG phải đảm bảo rằng trong hệ thống này không còn những yếu tố khuyến khích gia tăng mã hóa theo mức cao hơn thực tế. Việc kiểm tra các chẩn đoán thứ cấp (secondary diagnose) cũng đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong chia nhỏ mức độ phức tạp lâm sàng của bệnh nhân (patient clinical complexity level- PCCL).

Vì hệ thống DRG là một hệ thống thanh toán (cho bệnh viện) có chung mặt bằng (flat–rate remuneration) nên CHLB Đức đã tăng cường các biện pháp đảm bảo chất lượng để ngăn chặn tác động tiêu cực của hệ thống tài chính lên hậu quả về mặt chất lượng. Thí dụ, mọi bệnh viện đều buộc phải báo cáo hàng quý. Các biện pháp bảo đảm chất lượng khác cũng đuợc tiến hành thường xuyên.

Kết quả áp dụng DRG tại Đức là rất khả quan và đã nhận được những hưởng ứng tích cực kể cả từ chính quyền, cơ quan BHYT cũng như bệnh viện. Số ngày nằm viện trung bình đã giảm dần theo năm. Việc chi trả cho bệnh viện được thực hiện có định hướng, kết quả công việc tương đương nhau thì được chi trả như nhau, không phụ thuộc vào yếu tố bệnh viện. Điều này đã tạo nên sự cạnh tranh giữa các bệnh viện và cung ứng dịch vụ hiệu quả. Sự minh bạch trong dịch vụ cung cấp được gia tăng đáng kể do số liệu được ghi nhận rõ ràng và thể hiện mọi can thiệp vào điều trị. Các vấn đề liên quan tới chất lượng dịch vụ cung cấp cũng không còn quá nghiêm trọng nữa. Gần đây, Thụy Sĩ, Sip và Slovakia đã quyết định áp dụng hệ thống DRG dựa trên hệ thống G-DRG. Trung Quốc cũng đang hợp tác chặt chẽ với cơ quan DRG của Đức.

Còn hai tồn tại chưa đuợc giải quyết trong hệ thống G-DRG hiện nay. Đó là việc kiểm tra hoạt động mã hóa dịch vụ được thực hiện thường xuyên khiến các thày thuốc rất khó chịu và những yếu tố khuyến khích mở rộng các dịch vụ được lựa chọn chưa hoàn toàn được triệt tiêu.

 

___________________________________________

Nguồn:

1.      Martin Edgar Brawn. Country experiences in implementing DRG: Germany. Báo cáo tại Hội nghị  Prince Mahidol Award Conference 2012 – Moving toward Universal Health Coverage- Health Financing Matters. 24-28/1/2012. Bangkok.

2.      Bài giảng Tổng quan về Kinh tế y tế và công bằng trong KCB, Bộ môn kinh tế y tế, Khoa y tế công cộng của Trường Đại học y tế công cộng. 2010.  



[1] Australian refined DRG

[2] German DRG

[3] Các ca trong giới hạn số ngày nằm viện tối đa và tối thiểu

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung