Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Một số phân tích về điều tra trang thiết bị y tế tại Việt Nam và đề xuất tăng cường hiệu quả đầu tư  (28/03/2012)
Về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực y tế, theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cả nước có trên 70 dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào lĩnh vực y tế (y, dược, TTB) với tổng vốn đăng ký là gần 1 tỷ đô la. Mặc dù, vốn đầu tư trực tiếp FDI vào y tế còn khiêm tốn, song nhiều chuyên gia vẫn nhận định rằng trong những năm tới, số bệnh viện tư nhân và bệnh viện có vốn FDI sẽ tăng mạnh khi một loạt chính sách ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh được triển khai, nhiều rào cản trong hoạt động y tế tư nhân được tháo gỡ khi áp dụng chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế.

MỘT SỐ PHÂN TÍCH VỀ ĐẦU TƯ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ

Ts. Đặng Việt Hùng – Vụ Kế hoạch – Tài chính Bộ Y tế

I.      Tình hình đầu tư trang thiết bị y tế trên thế giới và tại Việt Nam

1)    Đặc điểm thị trường thế giới và đầu tư TTB y tế tại Việt Nam

Trên thế giới, thị trường trang thiết bị y tế khá tập trung. Năm 2003, tổng thị trường TTB y tế lên tới 148 tỷ đô la Mỹ, tăng đến 2006 khoảng 246 tỷ đô la Mỹ và tăng trưởng mỗi năm chừng 5,56%[1]. Thống kê cho thấy thị phần của 10 nhóm TTB lớn nhất chiếm tới gần 84%, trong đó Mỹ là thị trường lớn nhất (chiếm một nửa thị phần) và tăng trưởng mỗi năm chừng 7%. Số liệu trên thế giới cũng cho thấy khi thu nhập bình quân tăng lên thì thị trường TTB y tế cũng tăng lên. Tuy vậy, nhiều quốc gia vẫn đương đầu với thiếu tiếp cận với các trang thiết bị y tế chất lượng cao phù hợp với mô hình dịch tễ bệnh tật của mình.

Tại Việt Nam, được sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, trong thời gian qua, hệ thống y tế cả nước đã đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho các cơ sở thuộc các lĩnh vực: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, y dược học cổ truyền, đào tạo nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc và trang thiết bị y tế. Ðặc biệt nhiều cơ sở y tế tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, áp dụng nhiều phương tiện hiện đại trong khám, chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tại nhiều bệnh viện tỉnh, nhiều chuyên khoa được đầu tư đổi mới TTB như: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu. Nhiều thiết bị cơ bản và công nghệ cao được mua sắm như CT-scanner, máy X-quang cao tần - tăng sáng truyền hình, máy siêu âm, máy nội soi, máy xét nghiệm sinh hoá nhiều chỉ số, máy huyết học, máy gây mê, máy thở, máy sức tim, máy theo dõi bệnh nhân, sàng lọc HIV, sàng lọc máu... Các bệnh viện huyện đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán và xe Ô tô cứu thương. Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần thiết để phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân số và kế hoạch hoá gia đình. Do được đầu tư trang thiết bị tốt, nhiều bệnh viện tuyến dưới đã có khả năng thực hiện nhiều kỹ thuật chuyên sâu mà trước đây chỉ TW mới thực hiện được.

Về hệ thống sản xuất và kinh doanh TTB y tế cũng đã từng bước đổi mới công tác quản lý, sắp xếp và tổ chức lại hệ thống Công ty, Xí nghiệp thiết bị y tế, các Viện nghiên cứu và Trường đào tạo, bước đầu lập lại trật tự trong lĩnh vực kinh doanh, xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế. Nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế đã được đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ và đã sản xuất được nhiều trang thiết bị y tế thông thường, thiết bị nội thất bệnh viện.

Về nhu cầu đầu tư trang thiết bị y tế, Việt Nam là nước có số dân lớn (trên 87 triệu dân), trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới tháng 11/1/2007 và tốc độ phát triển kinh tế tương đối ổn định 6-7%/năm nên được coi là khá hấp dẫn với thị trường thiết bị y tế. Ngành Y tế vốn được coi là ngành có tính chất sự nghiệp công, nên hệ thống y tế Nhà nước chiếm vai trò chi phối và nhà nước đảm nhiệm trách nhiệm đầu tư  chính cho y tế (bao gồm cả kinh phí trả lương và một phần kinh phí hoạt động). Chi y tế bình quân đầu người tại Việt Nam có xu hướng tăng qua các năm, tính theo giá hiện hành qua các năm 1998, 2000, 2005, 2008, 2010 là 17 USD, 21, 38, 66 và 80 USD. Tỷ lệ tổng chi y tế và GDP có tăng song ở mức thấp, đạt khoảng 5-6%. Nhờ tổng chi cho y tế tăng lên, các bệnh viện có ngân sách để mua sắm máy móc, TTB y tế.

Bảng 1: Chi y tế qua các năm (tính bằng % của GDP)[2]

Năm

Tổng số chi y tế/GDP

NSNN chi y tế/GDP

Ngoài NSNN chi y tế/GDP

Viện trợ, vay,

đầu tư ngoài nhà nước/GDP

2000

5.24

1.47

3.77

0.14

2001

5.58

1.67

3.91

0.15

2002

5.13

1.49

3.64

0.18

2003

5.22

1.55

3.67

0.14

2004

5.52

1.40

4.12

0.12

2005

5.91

1.60

4.31

0.14

2006

6.22

2.27

3.94

0.15

2007

6.21

2.36

3.94

0.08

2008

6.00

2.74

3.65

0.14

2009

6.55

2.76

3.78

0.15

2010

6.93

3.09

3.84

0.10

 

Xét về quy mô thị trường TTB y tế, năm 2010 ước tính thị trường Việt Nam đối với thiết bị y tế và vật tư có giá trị chừng 515 triệu USD, tương đương 6 USD trên đầu dân. Một số con số dự báo lạc quan thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng từ 10-15% mỗi năm và đạt quy mô trên 1 tỷ đô la Mỹ vào năm 2015.  Thị phần chủ yếu hiện nay là từ nhập khẩu và một phần ba (30-40%) là từ các hãng của Nhật, Đức và Mỹ. Các thiết bị được tiêu thụ chủ yếu là thiết bị chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, thiết bị phòng mổ, thiết bị khử trùng, chống nhiễm khuẩn, theo dõi bệnh nhân và cấp cứu. TP Hồ Chí Minh và Hà Nội vẫn là nơi đầu tư TTB y tế nhiều nhất. Theo thống kê của Cục Hải quan TP.HCM, giá trị một số loại máy móc khám chữa bệnh nhập về VN qua các cảng của TP.HCM tăng mạnh qua từng năm: năm 2009 là gần 203,8 triệu USD; năm 2010 là 261,5 triệu USD; và chưa đến bốn tháng đầu năm nay đã nhập về hơn 110,2 triệu USD. Giá trị xuất khẩu của TTB y tế Việt Nam còn rất thấp, chỉ đạt 180 triệu USD năm 2008 và chủ yếu là sang Nhật Bản (29,6%).

Về chi đầu tư phát triển trong tổng chi y tế quốc gia cho thấy chiếm tỷ lệ dao động xung quanh 10% tổng chi y tế song có xu hướng giảm từ giai đoạn 2004-2007 (từ 13,77% năm 2003 xuống 7,6% năm 2004 và 6,9% năm 2007[3]) nhưng từ 2008 đến nay đã tăng nên nhờ các chương trình trái phiếu Chính phủ theo quyết định số 47/2008/QĐ-TTg  và 930/QĐ-TTg đầu tư cho bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh và một số chuyên khoa (lao, tâm thần, ung bướu, chuyên khoa nhi). Từ 2008 đến năm 2013, Chính phủ sẽ tiếp tục các chương trình đầu tư trái phiếu Chính phủ từ năm 2008 đến nay với 17 ngàn tỷ đồng đầu tư cho 624 bệnh viện huyện và trên 32 ngàn tỷ đồng từ TPCP đầu tư cho một số chuyên khoa và bệnh viện tuyến tỉnh. Mặc dầu số đầu tư cho TTB YT chưa thống kê thực tế được xong ước tính 30% là đầu tư cho TTB y tế.

Bên cạnh đầu tư từ ngân sách nhà nước và viện trợ, ngành y tế Việt Nam đã từng bước mở rộng xã hội hóa, cho phép một số hình thức huy động tài chính để trang bị thêm máy móc, trang bị. Hiện nay hình thức phổ biến trong các bệnh viện công huy động tài chính dưới các hình thức: liên doanh, liên kết đặt máy phân chia lợi nhuận hoặc đặt máy độc quyền cung cấp hóa chất. Theo hình thức này, đánh giá của Viện Chiến lược và chính sách y tế cho thấy ước tính cả nước huy động được trên 3.200 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở các bệnh viện thuộc TP HCM (trên 1000 tỷ đồng) và các bệnh viện thuộc Bộ Y tế. Nhờ phương thức này, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao đã được triên khai (mà không có nguồn vốn nhà nước) như chẩn đoán hình ảnh (MRI, CT scan, siêu âm), xét nghiệm, nội soi chẩn đoán và can thiệp; nguồn thu tài chính của bệnh viện tăng lên và giúp phát triển kỹ thuật tại các bệnh viện. Tuy nhiên, hình thức này thực hiện khi không tách thành pháp nhân độc lập sẽ có khả năng dẫn tới sự lạm dụng dịch vụ nếu kiểm soát không tốt.

Về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực y tế, theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cả nước có trên 70 dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào lĩnh vực y tế (y, dược, TTB) với tổng vốn đăng ký là gần 1 tỷ đô la. Mặc dù, vốn đầu tư trực tiếp FDI vào y tế còn khiêm tốn, song nhiều chuyên gia vẫn nhận định rằng trong những năm tới, số bệnh viện tư nhân và bệnh viện có vốn FDI sẽ tăng mạnh khi một loạt chính sách ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh được triển khai, nhiều rào cản trong hoạt động y tế tư nhân được tháo gỡ khi áp dụng chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế.

2)    Về các chính sách ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực y tế

Các chính sách ưu đãi đầu tư hiện hành với đầu tư vào lĩnh vực xã hội hoá được các địa phương áp dụng như sau: Đầu tư vào lĩnh vực y tế (bệnh viện) theo quy hoạch được xếp vào nhóm các dự án được khuyến khích đầu tư với một số ưu đãi chủ yếu như sau[4]:

- Ưu tiên bố trí đất xây dựng, giao đất sạch hoặc hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng, giảm hoặc miễn thu tiền sử dụng đất, miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, các tài sản trên đất.

- Ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, nhập khẩu.

- Các bệnh viện mới thành lập được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số năm nhất định, phổ thông là 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập trong 5 năm tiếp theo. Và được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động.

- Được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng và tín dụng phát triển, (Ngân hàng phát triển Việt Nam hoặc Quỹ đầu tư phát triển Tp. Hà Nội và Tp. HCM); được vay vốn dưới dạng cổ phần, huy động vốn từ người lao động, được liên kết, hợp tác với các tổ chức và cá nhân, được hưởng hỗ trợ sau đầu tư.

II.   Những tồn tại và thách thức lớn trong đầu tư tại Việt Nam

1) Môi trường đầu tư của Việt Nam còn cần phải tiếp tục cải thiện

Mặc dù Nhà nước đã hết sức chú trọng cải thiện môi trường kinh doanh, song Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong việc tạo ra nền kinh tế thị trường. Bảng 2 cho thấy đánh giá chung về môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Bảng 2: Đánh giá chung môi trường kinh doanh của Việt Nam[5] trong 183 quốc gia

Chỉ số

Xếp hạng

2011

Xếp hạng

2010

Thay đổi

xếp hạng

Chỉ số thuận lợi kinh doanh của World Bank

78

88

+10

Bắt đầu một doanh nghiệp

100

114

+14

Giải quyết giấy phép xây dựng

62

70

+8

Đăng ký tài sản

43

39

-4

Tiếp cận tín dụng

15

30

+15

Bảo vệ nhà đầu tư

173

172

-1

Trả thuế

124

146

+22

Thương mại xuyên biên giới

63

59

-4

Thực thi hợp đồng

31

31

0

Đóng doanh nghiệp

124

125

+1

 

Theo đánh giá của Tổ chức tài chính quốc tế (IFC), thị trường y tế của Việt Nam được xếp hạng (trong số 172 nước) như sau:

 

Bảng 3: Xếp hạng về thị trường y tế của Việt Nam[6]

 

Tiêu chí

Xếp hạng trên thế giới (trong 172 quốc gia)

Xếp hạng trong khu vực Đông Á (12 nước

1. Kinh tế: quy mô sự ổn định và tốc độ tăng trưởng

53

7

2. Hành lang pháp lý hỗ trợ

93

6

3. Khả năng và sự sắn sàng chi trả cho dịch vụ y tế của người bệnh

44

6

4. Sự lớn mạnh của bảo hiểm

85

12

5. Tính sẵn có của nguồn nhân lực có năng lực

129

8

 

Như vậy, Việt Nam rất thiếu nguồn nhân lực chất lượng và hành lang pháp lý hỗ trợ cho nhà đầu tư, trong khi có lợi thế về quy mô kinh tế và tốc độ tăng trưởng. Như vậy, Việt Nam có nhiều lợi thế về quy mô kinh tế (số dân đông), sự ổn định về tốc độ tăng trưởng cũng như sự sẵn sàng chi trả của người dân. Tuy nhiên, các trở lực chính nằm trong hạn chế của hành lang pháp lý hỗ trợ, sự phát triển bảo hiểm y tế và đặc biệt là chưa có sẵn nguồn nhân lực chất lượng cao.

2) Thực trạng đầu tư TTB y tế còn chưa đồng bộ và chưa đáp ứng nhu cầu

Hầu hết các bệnh viện ở nước ta là bệnh viện công, nên vốn để mua sắm TTB chủ yếu là từ ngân sách chính phủ và viện trợ, cho tặng. Tuy đã được cố gắng đầu tư, song tình trạng chung về trang thiết bị y tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực. Hầu hết trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao và bảo trì, bảo dưỡng. Theo thông tin từ Cục QLKCB[7], trang thiết bị y tế (trong danh mục Bộ Y tế ban hành) tại các Bệnh viện huyện mới đạt từ 30 – 50%, đặc biệt có huyện chỉ đạt 20%, còn thiếu nhiều thiết bị cần thiết phục vụ công tác chẩn đoán, cấp cứu và điều trị như X-quang, siêu âm, xét nghiệm sinh hóa, huyết học, máy thở, máy theo dõi bệnh nhân, dụng cụ mổ, đèn mổ... Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết công suất trang thiết bị hiện có. Năng lực của cán bộ kỹ thuật trang thiết bị y tế chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ. Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật thiết bị y tế còn thấp so với yêu cầu. Nhiều bệnh viện tỉnh chưa có phòng quản lý Vật tư - thiết bị y tế và còn ghép với Khoa Dược. Các xí nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế còn ít, chủng loại nghèo nàn, chất lượng sản phẩm chưa cao. Hệ thống kinh doanh, xuất nhập khẩu chưa hoàn chỉnh, thiếu vốn, thiếu thông tin, thiếu cán bộ có nghiệp vụ thương mại và trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y tế.

Hầu hết các bệnh viện đầu tư vào TTB y tế, trở thành công cụ cạnh tranh và nâng cao uy tín bệnh viện (bên cạnh các lợi ích về chuyên môn), tuy nhiên đã có dấu hiệu xuất hiện các hạn chế như xu hướng lệ thuộc TTB, lãng phí do thiếu hiểu biết sử dụng, đầu tư TTB không gắn với năng lực sử dụng, tiếp thu công nghệ không chọn lọc, thiếu định hướng của Nhà nước

3) Năng lực sản xuất TTB y tế trong nước chưa cao, còn phụ thuộc nước ngoài:

Theo quyết định 18/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2010, Việt Nam phải sản xuất được các loại máy thiết yếu như: X-quang, siêu âm, điện tim, dao mổ cao tần, laser y tế, thiết bị phân tích sinh hóa, huyết học... Tuy nhiên, TTB y tế do VN sản xuất chỉ dừng lại ở dạng cơ học, điện tử, chưa phát triển các kỹ thuật, công nghệ hiện đại như kỹ thuật số. Hầu hết các loại máy móc kỹ thuật cao như: MRI, CT Scanner, hóa chất xét nghiệm, vật tư tiêu hao, nguyên liệu sản xuất… đều phải nhập khẩu, dẫn tới giá thành cao và phụ thuộc nước ngoài.

4) Hệ thống giá dịch vụ và chính sách bảo hiểm y tế chưa phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường

Hiện nay, bảo hiểm y tế đang là nguồn tài chính ngày một lớn đối với nguồn thu của các bệnh viện (chiếm trên 50%) do tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đang ngày một tăng lên. Tuy nhiên, viện phí hiện nay chưa được đổi mới và nhiều bệnh viện cho rằng chưa đáp ứng được chi phí. Do bảo hiểm y tế thanh toán cho các bệnh viện dựa trên viện phí quy định nên các bệnh viện gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động và thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị y tế.

4) Còn tồn tại một số hạn chế về cơ chế chậm được khắc phục:

Về cơ chế mua sắm: bệnh viện công phải thực hiện mua sắm qua đấu thầu theo quy định, tuy nhiên chưa có quy định pháp lý đặc thù đối với đấu thầu mua sắm TTB y tế. Về thuế, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam áp dụng mức thuế 0-5% đối với TTB y tế (so với 5-15% sản phẩm dược) và thuế giá trị gia tăng áp dụng từ 5-10%, song các thủ tục nhập khẩu còn chưa theo kịp yêu cầu (theo luật để làm hồ sơ đăng ký sản phẩm nhập khẩu mất 15 ngày nhưng thực tế thường mất 6 tháng trở lên[8]).

Về cơ cấu vốn đầu tư TTB y tế trong đầu tư bệnh viện còn nhiều điểm chưa hợp lý. Rà soát nhiều dự án đầu tư xây dựng mới các bệnh viện cho thấy chi phí cho giải phóng mặt bằng, xây lắp chiếm tỷ trọng lớn và do nguồn vốn có hạn, nhiều bệnh viện chỉ có khả năng đầu tư phần vỏ và không được đầu tư TTB đồng bộ.

5) Hiệu quả đầu tư TTB chưa cao do hạ tầng cơ sở vật chất – kỹ thuật y tế chưa đồng bộ. Công tác kiểm định và hiệu chuẩn TTBYT vẫn còn nhiều khó khăn do chưa được đầu tư đúng mức cả về đội ngũ con người và thiết bị. Việc đào tạo, sử dụng nhân lực chuyên ngành TTB y tế, điện tử y sinh còn nhiều bất cập. Theo một số liệu thống kê chưa đầy đủ cuối năm 2007 về nhân lực TTBYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, bệnh viện huyện, tỷ lệ cán bộ kỹ thuật đảm nhiệm, phụ trách công tác TTBYT rất thấp: chỉ có 6% là kỹ sư; 35% là kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật; còn lại 59% là các cán bộ khác kiêm nhiệm[9].

 

III.           Dự báo xu hướng đầu tư và đề xuất một số biện pháp tăng cường hiệu qua đầu tư TTB y tế tại Việt Nam

1)    Xu hướng đầu tư TTB y tế:

- Do mô hình dịch tễ thay đổi, nhu cầu đầu tư TTB y tế tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do chi phí y tế tăng nhanh trong lúc xu hướng bệnh lý không lây nhiễm như ung thư, tim mạch, bệnh lý chuyển hóa, chấn thương tăng cao và tập trung vào các thiết bị chẩn đoán hình ảnh, phòng mổ, hồi sức cấp cứu, xét nghiệm chuyên sâu (thay thế thiết bị cũ, lạc hậu). Thiết bị của các hãng của Mỹ, Nhật Bản, LHLB Đức sẽ tiếp tục chiếm phần lớn thị phần và thị trường TTB y tế VN sẽ tiếp tục tăng trưởng 10-11% mỗi năm.  Sản xuất trong nước chiếm từ 1,5-2% tổng thị phần trong nước. Các thiết bị được đầu tư nhiều nhất là chẩn đoán hình ảnh (Xquang, siêu âm, MRI, CT scaner), thiết bị la bô xét nghiệm, thiết bị phòng mổ, theo dõi bệnh nhân, thiết bị khử khuẩn, nội soi, xử lý chất thải y tế…

-Việc đầu tư TTB y tế công nghệ cao sẽ tập trung chủ yếu ở các bệnh viện lớn ở thành phố lớn (TP HCM, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ…), Riêng thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến 2020 ước tính sẽ đầu tư chừng 900 triệu USD để nâng cấp TTB y tế cho các bệnh viện. Trong khi đó, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh sẽ được tăng cường đầu tư.

-Về đối tượng tiêu thụ, có 4 nhóm người mua TTB lớn nhất: bệnh viện công (70%); bệnh viện có vốn nước ngoài (thường mua hàng hóa xuất xứ từ nước bản địa), bệnh viện tư nhân và các viện nghiên cứu, trường đại học. Vốn đầu tư từ Nhà nước sẽ tiếp tục chiếm vai trò quan trọng và bệnh viện công sẽ có xu hướng tự chủ nhiều hơn trong việc tìm kiếm nguồn tài chính cho đầu tư  TTB y tế.

 

2)    Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trang thiết bị y tế:

                  a.            Tăng cường sự chỉ đạo, định hướng của các cấp có thẩm quyền, bảo đảm nguồn vốn đa dạng và cơ cấu đầu tư cho TTB hợp lý, trong đó khả năng nguồn vốn và nhu cầu đầu tư TTB cần được gắn kết ngay từ chủ trương đầu tư. Cần hài hòa việc phân bổ nguồn vốn Nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng và cho TTB; đa dạng hóa và lồng ghép các nguồn vốn (NSNN, viện trợ, xã hội hóa, đối tác công tư).

                 b.            Nâng cao vai trò của người sử dụng (bệnh viện) theo phương châm mua sắm phù hợp nhu cầu và năng lực sử dụng. Hiện nay các bệnh viện căn cứ vào danh mục TTB Bộ Y tế ban hành để xin đầu tư TTB y tế song các bệnh viện cần lựa chọn đầu tư phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng và nhân lực của mình.  

                 c.            Cần thiết xây dựng Quy hoạch TTB công nghệ cao để giảm lãng phí và hạn chế lạm dụng xét nghiệm công nghệ cao, đắt tiền

                 d.            Phát triển nguồn nhân lực một cách cân đối, bao gồm cả người sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa. Bộ Y tế cần đề xuất thành lập các trung tâm, công ty cung cấp dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng, đào tạo về sử dụng, quản lý TTB y tế.

                  e.            Tăng cường công tác bảo đảm và quản lý chất lượng TTB y tế, từ việc xây dựng tiêu chuẩn, kiểm định, kiểm chuẩn chất lượng TTB y tế cần được quan tâm..

 

*

*      *

 

Tóm lại, TTB y tế là bộ phận không thể tách rời trong các hoạt động y tế và là yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng, hiện đại hóa nền y học nước nhà. Quản lý TTBYT là một ngành đặc thù, cần được sự quan tâm đầu tư đúng mức cả về chính sách, thể chế, pháp lý, quy hoạch, kế hoạch, nhân lực, kinh phí. Mối quan hệ cơ sở hạ tầng – thuốc – thày thuốc – trang thiết bị y tế cần được giải quyết một cách hệ thống và tổng thể, phục vụ cho mục tiêu chung xây dựng một nền y tế Việt Nam theo hướng chất lượng, hiệu quả, công bằng và phát triển.



 

 

 



[1] http://www.who.int/medical_devices/publications/en/MD_Regulations.pdf

[2] Nguồn: Tài khoản y tế quốc gia 2006-2008; số liệu 2009 và 2010 là ước tính. Trong NSNN có viện trợ

 

[3] Tài khoản y tế quốc gia 2006-2008

[4] Theo Nghị định 69/2008/NĐ-CP

[5] TheoBáo cáo môi trường kinh doanh 2011 của Bộ Ngoại giao Mỹ;  http://www.state.gov/e/eeb/rls/othr/ics/2011/157384.htm

[6] Emmett Moriarty, chuyên gia công ty tài chính quốc tế IFC: Báo cáo trình bày tại Hội nghị thu hút đầu tư và thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam; TP HCM. 4/2010.

[7] http://www.kcb.vn/tin-tuc/van-de-hom-nay/trang-thiet-bi-y-te-benh-vien-tuyen-huyen-75-het-han-su-dung.html

[9] http://meditech.com.vn/tin-tuc/quan-ly-trang-thiet-bi-y-te-mot-nganh-dac-thu.512.html

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung