Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Tình hình thực hiện nhiệm vụ y tế dự phòng tuyến huyện  (03/02/2012)
Hiện nay Trung tâm y tế tuyến huyện có hai mô hình chính: mô hình chia tách, khối dự phòng không nằm chung với bệnh viện và mô hình khối dự phòng chung với bệnh viện. Hai mô hình đó dẫn đến việc bố trí nhân lực có sự cách biệt nhau, mô hình đã chia tách có số lượng cán bộ gấp nhiều lần mô hình chưa chia tách. Đây là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình thực hiện nhiệm vụ.

 

 Tuy nhiên, xét về tổng thể các Trung tâm y tế tuyến huyện và qua báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ của các Trung tâm năm 2010, có thể đánh giá  so với chỉ tiêu, kế hoạch được phê duyệt thì cơ bản các Trung tâm hoàn thành được nhiệm vụ, nhiều đơn vị hoàn thành xuất sắc. Cụ thể có thể đánh giá một số nhiệm vụ chính như sau:

 

 Công tác phòng chống dịch bệnh

 

Công tác phòng chống dịch bệnh được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của công tác y tế dự phòng tuyến huyện; Vì thế các Trung tâm y tuyến huyện đã đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng chống dịch như:

 

         -Tổ chức tốt  xây dựng hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm gây dịch trên địa bàn; các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sốt xuất huyết, cúm A H5N1, H1N1, HIV/AIDS thì còn dựa vào hệ thống giám sát trọng điểm tại các khu vực có nguy cơ cao.

-Tổ chức theo dõi, phát hiện, thực hiện tốt chế độ báo cáo dịch khẩn cấp, chế độ báo cáo định kỳ hàng tuần, hàng tháng theo qui định. Hệ thống báo cáo dịch bệnh với Trung tâm y tế thống qua hai nguồn chủ yếu là báo cáo của Trạm y tế tuyến xã, các cơ sở y tế trên địa bàn, ngoài ra còn có thể thu được thông tin từ bệnh viện tuyến trên hoặc bệnh viện cùng tuyến.

 

- Khi phát hiện các ổ dịch thì tập trung xử lý kịp thời, đúng qui định, hạn chế tác hại, hạn chế lây lan. Có thể khẳng định các Trung tâm y tế đã làm rất tốt nhiệm vụ xử lý ổ dịch nên trong những thời gian qua ở các địa phương các vụ dịch xảy ra không để tình trạng lây lan rộng, không để kéo dài và không có vụ dịch nào gây ra tác hại lớn, số người tử vong do các vụ dịch rất ít. Đây là một thành công lớn của các địa phương trong công tác chống dịch. Qua thống kê báo cáo của 28 trung tâm y tế huyện khảo sát thực địa, trong năm 2010, chỉ có 6 trường hợp tử vong do sốt xuất huyết (huyện Đức Huệ thuộc Long An 1, huyện Giong Trôm thuộc Bến Tre 2, huyện Châu Thành thuộc Đông Tháp 3), không có trường hợp nào tử vong do tiêu chảy, sốt rét, tả, cúm A H5N1, H1N1...

 

- Các hoạt động phòng chống dịch bệnh đã được các Trung tâm y tế thực hiện tốt. Mỗi khi có thông tin về dịch xẩy ra ở bất cứ địa bàn nào trong huyện, các cán bộ y tế dự phòng đều khẩn trương có mặt để điều tra, xác minh, đánh giá tình hình, đề ra các biện pháp xử lý. Trang thiết bị, thuốc được huy động cao nhất để chống dịch. Như vậy chứng tỏ các cán bộ y tế dự phòng có tinh thần trách nhiệm rất cao trong công tác phòng chống dịch

 

           Công tác chăm sóc bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình

                                           

Các Trung tâm y tế đã quan tâm đến công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình. Đây cũng là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác y tế dự phòng.

 

- Các Trung tâm y tế đã tập trung chỉ đạo và có nhiều giải pháp để thực hiện được những chỉ tiêu về công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em như thực hiện nhiệm vụ giám sát, hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật về chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với các xã, phường, phân công cán bộ thuộc khoa, đội hay cán bộ phụ trách chương trình Quốc gia chăm sóc sức khoẻ sinh sản phụ trách theo dõi các xã, phường.

 

- Chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra tuyến xã thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ sinh sản như tổ chức khám thai theo định kỳ, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện sinh đẻ ở các cơ sở y tế hoặc  có sự can thiệp của cán bộ y tế, thực hiện tốt tiêm chủng cho phụ nữ mang thai, thực hiện tốt công tác chăm sóc sau sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai, thực hiện kế hoạch hoá gia đình.

 Vì vậy theo thống kê ở các huyện thuộc địa bàn khảo sát thực địa nhiều chỉ số quan trọng đạt đước tỷ lệ cao như tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiêm chung đầy đủ 3 lần đạt trên 95%, tỷ lệ phụ nữ đẻ tại cơ sở y tế đạt gần 100%, tỷ lệ các bà mẹ trẻ em được chăm sóc sau sinh đạt gần 90%.

 

Một số địa phương đạt kết quả rất cao như huyện Tân Trụ thuộc tỉnh Long An

Số lần khám phụ khoa 7304/8601, đạt 0,4 lần/chỉ tiêu 0,5 lần

Điều trị phụ khoa 2409/2409, đạt 100%.

Khám thai > 3 lần 594/594, đạt 100%

Tiêm VAT thai phụ đủ liều 594/594, đạt 100%

Sinh con tại cơ sở y tế 594/594, đạt 100%

Trẻ sinh dưới 2.500g  14/594, tỷ lệ 2,36%


Bảng 51 :  Tỷ lệ chăm sóc bà mẹ có thai, khi sinh và sau sinh

 

 

Địa phương

Tỷ lệ phụ nữ sinh có sự can thiệp của nhân viên y tế

Tỷ lệ phụ nữ            Tỷ lệ phụ nữ

có thai được             sau sinh được

 khám đủ 3 lần        chăm sóc s/k

Thanh Bình Đồng Tháp

99,96

96,42                          97,27

Cao Lãnh

100

99,54                          98,30

Châu Thành

100

90,00                           97,22

Lấp Vò

100

93,80                          96,81

Mộc Hoá Long An

100

100                             81,20

Đức Huệ

100

98,00                          72,90

Tân Trụ

100

100                             80,10

Bến Lức

100

100                             78,20

Cao Lộc Lạng Sơn

96,50

88,30                          70,10

Văn Quan

98,40

75,80                          66,00

Chi Lăng

98,70

85,00                          72,30

Hữu Lũng

98,70

92,00                          74,60

Hương Hoá Quảng Trị

91,22

95,30                          82,25

Vĩnh Linh

93,57

97,61                          84,72

TP Kon Tum, Kon Tum

91,40

88,70                          73,16

Đắc Tô

87,50

83,4                                68,56

Giong Trôm Bến Tre

98,55

100                                 87,20

Châu Thành

96,26

95,00                              84,42

 

-  Các Trung tâm y tế đã quam tâm đến công tác chăm sóc trẻ em, thực hiện tốt công tác TCMR cho trẻ em và đạt được tỷ lệ cao và tỷ lệ cao này luôn được giữ vững, ổn định, nhiều nơi đạt được 100%,  trừ 2 huyện của Bến Tre, không có nơi nào đạt dưới 95%. Công tác phòng chông SDD cũng được đặc biệt quan tâm và đạt được kết quả tôt. Riêng hai huyện Đắc Tô, Kon Tum và Giong Trôm Bến Tre còn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao trên 20%.

 

Bảng 52:  Tỷ lệ tiêm chủng mỏ rộng và suy dinh dưỡng  trẻ em

 

 

Địa phương

 

Tỷ lệ TCMR (%)

 

Tỷ lệ SDD trẻ em (%)

Thanh Bình Đồng Tháp

98,31

14,96

Cao Lãnh

99

14,54

Châu Thành

100

16,52

Lấp Vò

95,7

16,75

Mộc Hoá Long An

100

19,50

Đức Huệ

100

19,80

Tân Trụ

99,34

4,43

Bến Lức

100

16,20

Cao Lộc Lạng Sơn

100

18,20

Văn Quan

100

19,51

Chi Lăng

100

19,23

Hữu Lũng

100

18,71

Hương Hoá Quảng Trị

97,2

18,14

Vĩnh Linh

98

17,75

TP Kon Tum, Kon Tum

98

19,30

Đắc Tô

95,5

27,00

Giong Trôm Bến Tre

72,82

24,00

Châu Thành

71,51

16,12

 

 

Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm

 

- Các Trung tâm y tế huyện đã thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn. Việc thực hiện giám sát thực hiện theo từng quí, từng năm và giám sát đột xuất, nội dung giám sát gồm kiểm tra giấy phép kinh doanh, xem xét điều kiện đảm bảo vệ sinh, kiểm tra kiến thức về ATVSTP của chủ cơ sở, kiểm tra trang phục bảo hộ, thực hiện các test nhanh. Có những địa phương đã thực hiện rất tốt công tác kiểm tra, giám sát.

 

Trung tâm y tế huyện Tân Trụ thuộc tỉnh Long An, trong năm 2010 đã tổ chức kiểm tra ATVSTP ba đợt: Kiểm tra 20 cơ sở sản xuất thực phẩm, đạt 100% kế hoạch; Kiểm tra 14/14 bếp ăn tập thể; Kiểm tra 276/276 cơ sở kinh doanh thực phẩm, xác định 62 cơ sở không đạt yêu cấu, xử phạt 8 cơ sở; Kiểm tra 212/212 cơ sở dịch vụ ăn uống, giải khát, xác định 60 cơ sở không đạt yêu cầu, xử phạt 9 cơ sở.

 

 Trung tâm y tế huyện Châu Thành thuộc tỉnh Đồng Tháp đã thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra ATVSTP, trong năm 2010 đã kiểm tra 2.032 lượt cơ sở, phát hiện 200 cơ sở vi phạm tiêu chuẩn ATVSTP, nhắc nhở 102 cơ sở, huỷ một số sản phẩm của 42 cơ sở, phạt tiền 13 cơ sở.

 

Trung tâm y tế huyện Kiến Xương thuộc tỉnh Thái Bình đã tổ chức quản lý 1.123 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, trong năm 2010 đã kiểm tra 100% các cơ sở này, có 789 cơ sở đạt tiêu chuẩn ATVSTP ,chiếm 70,4%, cơ sở không đạt 334, chiếm 29,6%, phạt tiền 25 cơ sở, thu hồi một khối lượng lớn bánh, kẹo không rõ nguồn gốc.

 

- Thực hiện việc phối hợp tổ chức “Tháng hành động vì chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm’, tổ chức truyền thông giáo dục sức khoẻ bằng nhiều hình thức như truyền thanh trên các phương tiện thông tin đại chúng, treo băng rôn, khẩu hiệu, tờ rơi, truyền thông lưu động.

 

-Thực hiện hướng dẫn ATVSTP cho các cơ quan trên địa bàn, các bếp ăn của các trường mầm non, tiểu học, bếp ăn tập thể của các nhà máy, xí nghiệp,các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh về thực phẩm.

 

- Tổ chức các lớp tập huấn về các văn bản qui pham pháp luật, các điều lệ và tiêu chuẩn ATVSTP cho các doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh và chế biến thực phẩm trên địa bàn huyện.

 

Trung tâm y tế huyện Thanh Bình thuộc tỉnh Đồng Tháp, trong năm 2010 đã tổ chức 15 lớp tập huấn kiến thức ATVSTP cho 905 người trực tiếp tiếp xúc thực phẩm đạt 93,1% kế hoạch.

 

Trung tâm y tế huyện Kiến Xương thuộc tỉnh Thái Bình tổ chức 10 lớp tập huấn kiến thức về ATVSTP, 352 người tham dự, thành phần gồm các nhà quản lý, cán bộ các ban, ngành, đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, các cán bộ quản lý bếp ăn tập thể trường mầm non, tiểu học và những người trực tiếp tham gia sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm.

 

- Tổ chức cấp giấy chứng nhân đủ điều kiện ATVSTP, lập hồ sơ quản lý các cơ sở kinh doanh, chế biến thực phẩm. Trung tâm y tế huyện Hưng Hà thuộc tỉnh Thái Bình, trong năm 2010 đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 319 đơn vị trong số 679 cở sở do Trung tâm y tế huyện quản lý, lập hồ sơ quản lý 1.116 cơ sở, trong đó gồm 336 cơ sở chế biến thực phẩm, 501 cơ sở kinh doanh thực phẩm, 279 cơ sơ dịch vụ ăn uống.

 

Trung tâm y tế huyện Thanh Bình thuôc tỉnh Đồng Tháp, tđã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP  cho 164/356 sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm; Công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cho 52/62 cơ sở. Riêng các cơ sở sản xuất rượu đã công bố chất lượng sản phẩm cho 45/208 cơ sở.

 

 

 Đánh giá những hạn chế

 

-Hoạt động của các Trung tâm y tế đã đạt được nhiều kết quả trên đây, tuy nhiên cũng còn rất nhiều hạn chế, nếu so sánh với yêu cầu cần phải đạt được trong thực hiện nhiệm vụ y tế dự phòng của tuyến huyện thì còn nhiều bất cập. Những bất cập này do nhiều nguyên nhân, trong đó những nguyên nhân chủ yếu là:

 

 (a) Nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, các Trung tâm đã chia tách có số lương tương đối đủ so với Thông tư 08, nhưng các Trung tâm y tế chưa chia tách thì nhân lực rất thiếu, chất lượng, cơ cấu cán bộ không đáp ứng, thiếu cán bộ chuyên môn  y tế dự phòng, thiếu bác sĩ.

 

 (b) Cơ sở vật chất, trang thiết bị trừ một số huyện được đầu tư xây dựng cơ sở riêng, được VAHIP đầu tư trang thiết bị, còn lại cơ sở vật chất rất kém, đặc biệt trang thiết bị vô cùng kém, không đủ điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ.

 

(c) Một số chương trình y tế Quốc gia, một số dự án nguồn kinh phí ít, mức chi thấp, rất nhiều trường hợp chuyển kinh phí quá chậm, phổ biến các huyện đến hết tháng 3 mà chưa được nhận kinh phí hoạt động, tức là chuyển chậm kinh phí hơn 3 tháng. Phần lớn các huyện không được cấp thêm ngân sách của địa phương cho việc thực hiện các Chương trìitg mục tiêu y tế Quốc gia.

 

 

Những hạn chế của các Trung tâm y tế trong thực hiện nhiệm vụ thể hiện ở:

 

(a) So với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ y tế dự phòng tuyến huyện thì hầu hết các Trung tâm y tế còn để có khoảng cách khá xa. Điều đó có nghĩa là còn nhiều nhiệm vụ chưa có đủ điều kiện thực hiện hoặc có thực hiện thì chưa đi vào chiều sâu, hiệu quả chưa cao, ngoài nhiệm vụ phòng chống dịch, công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình thực hiện tương đối tốt, còn các hoạt động khác như công tác xét nghiệm, ATVSTP, vệ sinh môi trường, y tế trường học... thực hiện chưa tốt.

 

(b) Công tác lãnh đạo, điều hành của cán bộ còn nhiêù hạn chế, việc xây dựng kế hoạch hàng năm làm còn sơ sài, chưa có bài bản. Qua 28 bản báo cáo tổng kết năm 2010 và kế hoạch năm 2011 của 28 trung tâm y tế thì thấy rất rõ phần lớn báo cáo và kế hoạch viết rất sơ sài, nhiều nội dung đánh giá không có số liệu chứng minh, có những nội dung rất cần những số liệu cụ thể nhưng cũng không có.

 

(c) Công tác phối hợp với chính quyền địa phương, các ban, ngành, đoàn thể còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh, nhiều nơi chính quyền chưa quan tâm ủng hộ ngành y tế thực hiện công tác y tế dự phòng. Việc nhiều địa phương không quan tâm đến bố trí nhân lực cho khối y tế dự phòng, để tình trạng quá thiếu nhân lực và xác  định tuỳ tiện biên chế là một minh chứng rất rõ ràng.

 

(d) Hiệu quả hoạt động giám sát phát hiện ca bệnh còn nhạn chế, nhất là giám sát tại tuyến xã, phường. Tần xuất đi giám sát còn thấp, hiệu quả giám sát chưa cao do cán bộ thiếu và kỹ năng, kiến thức, phương pháp giám sát còn nhiều hạn chế. Đặc biệt công tác giám sát về ATVSTP làm chưa thường xuyên,thiếu phương tiện, thường chỉ giám sát khi thực hiện các chiến dịch như Tháng hành động vì chất lượng ATVSTP hay nhân dịp tết Nguyên đán, tết Trung thu...

 

(e) Hoạt động y tế dự phòng của những nơi chưa chia tách, tổ chức chỉ có Đội phòng dịch và Đội Chăm sóc sức khoẻ sinh sản thì hoạt động vô cùng khó khăn. Ở đây không chỉ nhân lực thiếu mà cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng rất thiếu. Nhiều nơi ở Bắc Giang, Hưng Yên, với đội y tế dự phòng có từ 5-7 người thì mỗi người phải kiêm nhiệm rất nhiều công việc.

 

Trung tâm y tế thành phố Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum chỉ có 2 cán bộ làm công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, hai cán bộ này, mỗi người bố trí làm việc ở 2 phòng khám khu vực, thực chất họ chỉ làm việc tại phòng khám, không đi xuống cơ sở.

 

một số tỉnh khác như Bình Định, Kon Tum, Bắc Giang, Hưng Yên thì các tỉnh này cũng cho rằng thực chất nhiệm vụ về y tế dự phòng chung của toàn tỉnh cũng chỉ thực hiện được 60-70%. Đây là một thực tế, một tất yếu do những điều kiện khách quan quyết định. Đó là do tình hình nhân lực không đáp ứng, cơ sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn hoặc quá thiếu thốn. Nhiều Trung tâm y tế trang thiết bị gần như không có gì đáng kể, đặc biệt là những Trung tâm y tế chưa chia tách.

 
Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung