Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Đổi mới cơ chế tài chính ngành y tế   (23/08/2011)
Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển, góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần nâng cao an sinh xã hội. Tài chính y tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc đầu tư cho sức khỏe nhằm hướng tới mục tiêu trên.

1. Nhu cầu cấp bách cần đổi mới cơ chế tài chính ngành y tế

1.1. Căn cứ lý luận.

Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển, góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần nâng cao an sinh xã hội. Tài chính y tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc đầu tư cho sức khỏe nhằm hướng tới mục tiêu trên.

Tại sao cần đổi mới cơ chế tài chính ngành y tế.

Đổi mới là xu hướng tất yếu và là nhu cầu thiết yếu của xã hội. Tất cả mọi quá trình phát triển từ trước đến nay trong lịch sử đều gắn liền với sự đổi mới. Nền tài chính y tế của Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu hướng tất yếu đó. Ở nước ta, việc tài chính y tế chậm đổi mới so với sự phát triển chung của xã hội dẫn tới trì trệ hoặc phát triển không như mong muốn. Điều này có thể dẫn tới nhiều hậu quả như nền tài chính y tế nước ta không được thế giới đánh giá cao về nhiều mặt như chi phí từ tiền túi lớn, phương thức chi trả theo từng dịch vụ y tế, tính lành mạnh thấp, độ minh bạch không cao.v.v. Hiện tượng “lệ phí ngầm” tại các cơ sở y tế mặc dù không công khai nhưng rất khó có thể phủ nhận hiện tượng này không tồn tại. Tình trạng người bệnh phải làm nhiều xét nghiệm khá phổ biến khi đến các cơ sở y tế tư nhân và cả các cơ sở y tế Nhà nước v.v. Các vấn đề này cho thấy nếu chậm đổi mới cơ chế tài chính y tế có thể sẽ dẫn đến nhiều tác động tiêu cực và hậu quả xấu khác cho người dân và xã hội.

Trong 20 năm gần đây, kinh tế và xã hội Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc và chuyển biến mạnh mẽ. Các thành tựu về kinh tế đều gắn liền với dấu mốc quan trọng là chính sách “Đổi mới” năm 1986. Tuy nhiên khác với kinh tế, nền tài chính y tế gặp nhiều khó khăn trong việc đổi mới. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tài chính y tế vận hành theo cơ chế nào để vừa đạt được mục tiêu phát triển vừa bảo đảm an sinh xã hội?

1.2.Các thách thức đặt ra cho tài chính y tế        

Cho đến nay, nhiều vướng mắc và thách thức đặt ra cho tài chính y tế vẫn chưa được giải quyết, từ đó dẫn đến khó khăn trong việc đổi mới. Một trong những vướng mắc lớn nhất là việc xác định các đặc trưng cơ bản của dịch vụ y tế trong bối cảnh kinh tế chính trị của nước ta hiện nay. Điều này dẫn đến trong xã hội có nhiều quan điểm không thống nhất về DVYT như DVYT là loại dịch vụ công, do Nhà nước bao cấp toàn bộ, bao cấp một phần hay DVYT là một loại hàng hóa đặc biệt, cần có những cơ chế đặc thù hay DVYT cũng tương tự như các loại hàng hóa khác? Sự không thống nhất trong quan điểm này sẽ dẫn đến nhiều điều không rõ ràng khác như giá viện phí hiện nay mang nặng tính bao cấp nhưng lại không xác định rõ được cơ quan nào sẽ “bao cấp” cho phần đó; các đơn vị y tế cần được ngân sách Nhà nước đảm bảo kinh phí chi thường xuyên hay phải tự “xoay xở”… Chính sự vướng mắc về mặt cơ chế tài chính này đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền tài chính y tế và sự nghiệp y tế.

Ở Việt Nam với thu nhập còn thấp, khả năng chi trả dịch vụ y tế của người dân đương nhiên cũng chưa cao, do vậy tài chính y tế phải hướng tới mục tiêu công bằng và an sinh xã hội. Bên cạnh đó cơ chế tài chính y tế phải tạo điều kiện khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng cho y tế, cả cơ sở vật chất cũng như con người, làm cho xã hội quan tâm hơn tới ngành y tế, đầu tư cho y tế và chăm lo rèn luyện sức khỏe; đồng thời tạo điều kiện cho các đơn vị y tế phát huy đầy đủ nội lực; phát huy tính sáng tạo của con người và sử dụng nguồn lực có hiệu quả nhất. Thực tế cho thấy trong thời gian qua có những địa phương, đơn vị đã mạnh dạn thay đổi cách làm và đã mang lại những hiệu quả tốt. Ở những nơi đó người cán bộ y tế làm việc hiệu quả hơn, thu nhập cao hơn và người bệnh được chăm sóc tốt hơn. Vì vậy cần đổi mới cơ chế tài chính để làm sao vừa huy động nhiều hơn nguồn lực cho y tế vừa sử dụng và phát huy tối đa năng lực của toàn bộ hệ thống nhằm phục vụ sức khỏe nhân dân tốt hơn.

Hệ thống y tế đã và đang vận hành trong bối cảnh kinh tế thị trường và theo định hướng công bằng hiệu quả và phát triển. Tài chính y tế là một cấu phần quan trọng của hệ thống y tế với chức năng đảm bảo đủ nguồn lực cho hệ thống y tế vận hành. Vì vậy đổi mới cơ chế tài chính y tế là tất yếu nhằm làm cho hệ thống y tế vận hành năng động hơn, hiệu quả hơn. Nói một cách khác đổi mới cơ chế tài chính y tế là huy động được nhiều nguồn lực hơn, sử dụng nguồn lực đó hiệu quả hơn và làm cho người dân được hưởng lợi nhiều dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng hơn.

2. Đánh giá thực trạng cơ chế tài chính y tế ở Việt Nam

2.1. Những kết quả và tiến bộ

Sau khi có nghị quyết 46-BCT đầu tư cho y tế đã tăng lên đáng kể năm 2007 chi cho y tế chỉ đạt 31.841 tỷ đồng thì năm 2009 đã đạt 60.135 tỷ đồng tăng gần gấp đôi về giá trị tuyệt đối sau 3 năm.

   Trong thời gian vừa qua tỷ lệ chi cho y tế/GDP và tỷ lệ chi cho y tế từ ngân sách nhà nước/ tổng chi ngân sách nhà nước đã tăng lên đáng kể.

Biểu 1: Tỷ lệ chi y tế so với GDP và tỷ lệ chi y tế từ ngân sách nhà nước so với tổng chi ngân sách nhà nước.

       

Năm 2005 chi cho y tế từ ngân sách nhà nước chỉ đạt 5,22% thì năm 2009 đã đạt 10,3%/ tổng chi ngân sách nhà nước.

Do đầu tư từ ngân sách nhà nước cho y tế tăng khả mạnh trong 5 năm qua nên tỷ trọng chi công và chi tư cho y tế thay đổi đáng kể theo hướng tăng tính công bằng. Năm 2005 chi công cho y tế chỉ đạt dưới 30% thì năm 2009 đã đạt trên 45%.

 Biểu 2: Chi công và tư cho y tế giai đoạn 2005-2009

Tuy nhiên, ngân sách nhà nước chi cho y tế vẫn còn thấp so với nhu cầu do đó cần có những giải pháp để tăng cường các nguồn lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đã có.

 

2.2. Các vấn đề tồn tại của tài chính y tế

2.2.1.  Nguồn lực tài chính hạn chế

a. Tỷ trọng chi công cho y tế còn thấp

Trong những năm qua, mặc dù ngân sách Nhà nước chi cho y tế đã tăng nhưng tỷ trọng còn thấp. Đến năm 2009 tỷ trọng chi cho y tế chiếm 10,3% tổng chi ngân sách Nhà nước, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư của ngành y tế. Trong những năm tới tỷ trọng này nếu có tăng thêm nữa cũng vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu đầu tư, hơn nữa tỷ trọng này không thể cứ tăng thêm được mãi vì nhu cầu của các ngành khác trong xã hội cũng rất cao. Điều này cho thấy nếu tài chính y tế chỉ “trông đợi” vào NSNN thì chắc chắn sẽ không theo kịp sự phát triển và nhu cầu của xã hội, bên cạnh đó cũng cho thấy tính cấp bách cần đổi mới toàn diện cơ chế tài chính y tế, có như vậy nền tài chính y tế mới có thể huy động được nhiều nguồn lực đầu tư hơn trong tương lai.

b. Tính hiệu quả của việc chuyển đổi cách hỗ trợ ngân sách Nhà nước

Trong nền tài chính y tế ở Việt Nam, NSNN chi cho y tế chủ yếu theo hình thức đầu tư trực tiếp cho các cơ sở y tế ở các tuyến TW và địa phương. Từ năm 2003 đến nay, trong khoản chi tiêu cho y tế, NSNN đã dành một khoản kinh phí đáng kể dùng để hỗ trợ Quỹ Khám chữa bệnh người nghèo (Quỹ 139) và mua thẻ BHYT cho người nghèo. Một số các đối tượng khác cũng được NSNN hỗ trợ mua thẻ KCB như trẻ em dưới 6 tuổi, người già trên 85 tuổi… Việc sử dụng một phần kinh phí của NSNN trực tiếp mua thẻ BHYT cho người dân là một thay đổi mang tính bước ngoặt rất quan trọng trong quan điểm và thực tiễn của tài chính y tế: chuyển một phần ngân sách đầu tư cho các cơ sở y tế sang hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh.

Tuy nhiên, tính hiệu quả của việc chuyển đổi hình thức hỗ trợ NSNN cho y tế trực tiếp sang người dân ở một số địa phương có những hạn chế. Sau khi ban hành QĐ 139/2002/QĐ-TTg, người nghèo có nhiều cơ hội sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh, đã cải thiện khả năng tiếp cận các cơ sở y tế rõ rệt. Một số người nghèo đã tiếp cận và sử dụng DVYT tại tuyến tỉnh, trung ương. Tuy nhiên đa số người nghèo chủ yếu sử dụng các DVYT có chất lượng thấp ở tuyến cơ sở. Trong các năm triển khai Quỹ KCB cho người nghèo có tình trạng khá nhiều tỉnh không sử dụng hết kinh phí, trong số đó chủ yếu là các tỉnh miền núi. Như vậy mặc dù người nghèo đã được hỗ trợ kinh phí nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn khi đi KCB do các rào cản khác nhau. Sau khi NSNN hỗ trợ người nghèo bỏ hình thức quỹ KCB 139, chuyển sang hệ thống chung của BHYT lại phát sinh hiện tượng "bao cấp ngược", tức là "người nghèo ở miền núi hỗ trợ kinh phí KCB cho người có BHYT ở miền xuôi". Sau khi ban hành Luật BHYT năm 2008, người nghèo có khả năng tiếp cận với các dịch vụ KCB có chất lượng cao hơn. Tuy nhiên do còn nhiều rào cản về thủ tục hành chính, chi phí gián tiếp, đi lại khó khăn và quy định đồng chi trả 5% nên người nghèo chưa thực sự được hưởng các dịch vụ KCB có chất lượng như các đối tượng khác. Như vậy việc hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương ở một số địa phương mặc dù đã mua được thẻ BHYT nhưng người dân chưa thực sự được hưởng các DVYT có chất lượng.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Luật BHYT, NSNN cũng được sử dụng để hỗ trợ cho đối tượng cận nghèo tối thiểu 50% mức phí tham gia BHYT. Đến nay, đối tượng cận nghèo tham gia BHYT mới chỉ đạt khoảng 10%. Bên cạnh đó, các nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc khác như học sinh sinh viên, trẻ em dưới 6 tuổi, người cao tuổi… cũng chưa đạt tỷ lệ 100% có thẻ BHYT do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả những nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách, sự phối hợp thực hiện giữa các ban, ngành chức năng, nhận thức pháp luật của một bộ phận nhân dân[1]… Khoản NSNN dành để mua thẻ BHYT cho các đối tượng này cũng không được sử dụng để mua thẻ. Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có giải pháp phù hợp để sử dụng tốt nguồn lực ngân sách dành cho hỗ trợ cho người cận nghèo và một số đối tượng khác mua thẻ BHYT.

c. Tài chính cho y tế dự phòng chứa đựng nhiều bất hợp lý và vướng mắc

Việc phân bổ tài chính cho y tế dự phòng hiện nay đang có nhiều vướng mắc. Thứ nhất, việc tính toán tách bạch rành mạch các khoản chi cho YTDP rất khó khăn do YTDP bao gồm nhiều hoạt động, nguồn chi và mục chi khác nhau. Hiện nay, kinh phí chi cho YTDP thông qua nhiều dòng kinh phí như hỗ trợ trực tiếp cho cơ sở y tế hoặc hỗ trợ thông qua chương trình mục tiêu y tế quốc gia, dự án… Chính vì vậy, để xác định được kinh phí được cấp cho YTDP đã đủ hay chưa theo tinh thần của Nghị quyết số 18 Quốc Hội khóa XII còn khá phức tạp.

Việc giao quyền tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP cho các đơn vị dự phòng có nhiều vấn đề bất hợp lý và chưa thực sự mang lại hiệu quả. Các đơn vị thuộc khối YTDP có những nét đặc thù riêng như các hoạt động mang tính chất phục vụ cộng đồng và phòng chống bệnh dịch là chủ yếu; nguồn thu trực tiếp từ người dân do DVYT dự phòng mang lại tương đối hạn hẹp. Chính vì vậy, khi áp dụng Nghị định 43 vào các đơn vị khối YTDP sẽ dẫn đến nghịch lý là “đơn vị nào hoạt động càng tích cực thì khoản kinh phí tiết kiệm được sẽ càng ít”. Hầu như đơn vị nào cũng đều rất có ý thức trong việc tiết kiệm các khoản chi thường xuyên như điện, nước, xăng xe v.v. Tuy nhiên nếu tiết kiệm xăng xe thì việc đó cũng gần như là phải giảm hoạt động đi cộng đồng, từ đó dẫn đến các hoạt động chuyên môn không được thực hiện đầy đủ, làm giảm hiệu quả hoạt động.

Như vậy, cơ chế phân bổ tài chính cho khối YTDP và việc áp dụng Nghị định 43/2006/NĐ-CP cho các đơn vị dự phòng có nhiều bất hợp lý, ảnh hưởng đến    hiệu quả hoạt động của YTDP. Thực trạng này đòi hỏi nhu cầu cấp bách cần đổi mới cơ chế phân bổ tài chính y tế.

d. Bất hợp lý trong phân bổ ngân sách Nhà nước cho khối bệnh viện

Hiện nay, NSNN phân bổ cho các bệnh viện chủ yếu dựa trên xếp hạng bệnh viện và quy mô giường bệnh. Hình thức phân bổ NSNN cho các bệnh viện mang tính chất bình quân đã được thực hiện từ rất lâu và vẫn tiếp tục được thực hiện cho đến ngày nay. Sự bất hợp lý rất lớn nằm ở chỗ là việc phân bổ kinh phí đơn thuần dựa vào các chỉ số mang tính hành chính mà không dựa vào các chỉ số hoạt động của bệnh viện. Như vậy sẽ có tình trạng là có những bệnh viện hoạt động tốt, thu hút đông người bệnh cũng chỉ được phân bổ kinh phí tương đương với bệnh viện hoạt động yếu, ít bệnh nhân nếu cùng số giường và đồng hạng. Chính cơ chế phân bổ tài chính bất hợp lý như vậy sẽ dẫn đến hàng loạt những hệ quả khác như có những bệnh viện chú trọng vào việc tăng số giường bệnh hơn là chú trọng phát triển chuyên môn, bởi vì phát triển chuyên môn thì khó được tăng ngân sách hơn là tăng số giường bệnh.

Hơn nữa, hình thức NSNN phân bổ cho các bệnh viện có bất hợp lý khác là hiện tượng “bao cấp ngược”. Hiện nay bệnh viện tuyến cao nhất nhận được nhiều kinh phí nhất tính theo số giường bệnh và bệnh viện tuyến thấp hơn nhận được ít kinh phí hơn. Việc phân bổ như vậy cơ bản là hợp lý do tuyến trên điều trị các ca bệnh phức tạp hơn, đòi hỏi trang thiết bị, con người… cao hơn tuyến dưới. Tuy nhiên, nếu xét về khả năng tiếp cận thì tỷ lệ người nghèo được sử dụng các DVYT tuyến trên so với người giàu thấp hơn rất nhiều. Do vậy, việc phân bổ này ngầm chứa nghịch lý “bao cấp ngược”: NSNN phân bổ nhiều hơn, hỗ trợ nhiều hơn cho các đối tượng thu nhập cao hơn. Việc NSNN cấp cho các bệnh viện tuyến huyện hạn chế cũng chưa thực sự khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ bệnh viện ở tuyến dưới. Thực trạng này đòi hỏi nhu cầu đổi mới và cần có các cơ chế phân bổ tài chính hợp lý hơn cho các bệnh viện, làm thế nào để việc phân bổ kinh phí dựa trên hoạt động thực chất của bệnh viện, khuyến khích người dân sử dụng các DVYT tuyến dưới và tránh hiện tượng “bao cấp ngược” cho người giàu.

2.2.2. Sử dụng tài chính chưa hiệu quả

Bên cạnh các khó khăn như nguồn lực tài chính hạn chế, phân bổ còn nhiều bất cập thì tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực tài chính đang có nhiều vấn đề tồn tại.

a. Giá và sử dụng dịch vụ y tế khó kiểm soát

Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 95-CP về việc thu một phần viện phí năm 1994 cho đến nay vẫn không có thay đổi chính thức nào về mặt văn bản. Sau 16 năm, giá viện phí trên lý thuyết vẫn áp dụng khung giá từ năm 1994 đã bộc lộ quá nhiều bất hợp lý so với mặt bằng giá cả chung của xã hội. Chính vì giá viện phí không bù đắp đủ chi phí cho các DVYT nên để tồn tại được trong nền kinh tế thị trường, các bệnh viện và CSYT đã tự áp dụng các quy định và hình thức khác nhau nhằm tăng thêm nguồn thu, bù đắp vào khoản thiếu hụt. Điều này dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực khác như giá một số dịch vụ bệnh viện gia tăng khó kiểm soát, trong đó có vấn đề lạm dụng thuốc và xét nghiệm (theo báo cáo y tế thế giới năm 2010 lãng phí 40%). Mặc dù hiện nay không có công cụ và biện pháp hữu hiệu nào để đánh giá được việc lạm dụng thuốc và dịch vụ cận lâm sàng, nhưng theo kết quả một số nghiên cứu thì hiện tượng này đang tồn tại ở nhiều CSYT Nhà nước và đặc biệt là CSYT tư nhân. Một nghiên cứu đánh giá việc thực hiện tự chủ bệnh viện theo Nghị định 43 cho biết có nguy cơ lạm dụng, tăng chỉ định sử dụng các XN và TTB kỹ thuật cao tại một số bệnh viện các tuyến; tỷ lệ sử dụng MRI và CT trên lượt bệnh nhân tăng qua các năm, 20% bác sỹ được điều tra cho biết có nguy cơ lạm dụng xét nghiệm. Bệnh viện tuyến TW có chi phí điều trị ngoại trú của bệnh nhân BHYT tăng từ 1,2-2,6 lần năm 2008 so với năm 2005; chi phí điều trị nội trú tăng 1,1-2,8 lần.

Như vậy, những bất hợp lý trong quy định giá viện phí quá thấp đã dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực khác, dẫn đến tình trạng rất khó kiểm soát giá DVYT cũng như việc sử dụng DVYT của các bệnh viện. Thực trạng này càng đòi hỏi nhu cầu cần đổi mới toàn viện về giá viện phí và cơ chế tài chính.

b. Bàn tay quản lý của Nhà nước chưa phát huy hiệu quả cao

Vai trò của quản lý Nhà nước về mặt tài chính y tế trong những năm qua chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Do mô hình tổ chức y tế liên tục thay đổi dẫn trong những năm gần đây dẫn đến việc phân bổ tài chính, quản lý tài chính y tế cũng thay đổi qua các đơn vị y tế sang chính quyền và ngược lại. Vai trò của Nhà nước trong quản lý giá DVYT chủ yếu chỉ dừng ở mức các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giá DVYT do bệnh viện và các CSYT đề xuất. Vai trò của quản lý Nhà nước không có hiệu quả cao các khía cạnh kiểm soát giá và sử dụng DVYT, định hướng và khuyến khích các loại DVYT nào nên phát triển nhằm đem lại lợi ích lớn cho cộng đồng và hạn chế loại DVYT nào chưa nên phát triển.

c. Cơ chế tài chính y tế ít phát huy động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ y tế

Cơ chế tài chính y tế như hiện nay bộc lộ nhiều bất cập không chỉ với người bệnh, cơ sở y tế mà ảnh hưởng rất nhiều đến đội ngũ CBYT. Hệ thống tài chính y tế chưa tạo động lực làm việc hiệu quả cho đội ngũ cán bộ y tế trên một số khía cạnh. Thứ nhất, giá DVYT và tiền công trực tiếp trả cho CBYT quá thấp, trong khi tính chất công việc của CBYT đòi hỏi tư duy cao, tiêu tốn sức lực và nhiều nguy hiểm, rủi ro… vì vậy không khuyến khích được CBYT cống hiến hết mình cho sự nghiệp. Thứ hai, cơ chế phân bổ tài chính cho các CBYT thực hiện các công việc mang tính chất khác nhau nhưng mang tính bình quân chủ nghĩa, vì vậy không khuyến khích được CBYT làm việc ở những công việc độc hại, nguy hiểm hoặc ít có thu nhập phụ khác. Cơ chế bất cập này đã dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực trong những năm gần đây như tình trạng dịch chuyển CBYT từ vùng nông thôn ra thành thị; từ tuyến dưới lên tuyến trên hoặc từ bệnh viện công sang bệnh viện tư.

d. Thực hiện tự chủ bệnh viện dẫn đến những tác động không mong muốn

Bên cạnh những mặt tích cực thì chủ trương của Chính phủ giao quyền tự chủ cho các bệnh viện và cơ sở y tế đã dẫn đến một số tác động tiêu cực không mong muốn. DVYT là một loại hàng hóa đặc biệt không tuân theo quy luật kinh tế thị trường nhưng các bệnh viện được giao tự chủ và vận hành theo cơ chế thị trường, chính vì vậy điều này đã bộc lộ những mâu thuẫn từ mặt lý luận đến bất cập trong triển khai tự chủ bệnh viện. Các bệnh viện được giao tự chủ nhưng không tính đủ chi phí trong cơ cấu giá dịch vụ làm cho các bệnh viện thiếu nguồn lực, từ đó dẫn đến các bệnh viện đều có chủ trương tận thu. Theo một nghiên cứu về việc triển khai NĐ 43, tất cả các bệnh viện đều chủ động mở rộng các loại hình dịch vụ KCB góp phần làm tăng số lượt bệnh nhân đến KCB tại bệnh viện. Điều này dẫn đến tình trạng bệnh viện tuyến trên làm cả các DVYT tuyến dưới, từ đó góp phần làm tăng thêm quá tải bệnh viện, giảm chất lượng điều trị… Theo nghiên cứu này thì công suất sử dụng giường bệnh tăng rõ rệt lên 25% tại các BV tự chủ toàn phần (so sánh năm 2008 và 2005).

Việc thực hiện tự chủ bệnh viện cũng làm tăng nguy cơ lạm dụng, tăng chỉ định sử dụng các xét nghiệm và TTB kỹ thuật cao và tăng chí phí điều trị. Mặt khác, khả năng thực hiện tự chủ của bệnh viện tuyến huyện rất hạn chế, đặc biệt tại các vùng kinh tế chưa phát triển do các CSYT ít có khả năng tăng thu từ người dân. Như vậy, việc thực hiện tự chủ đã làm cho các vấn đề bất cập hiện có tại tuyến huyện càng trở nên khó khăn hơn. Điều này cũng cho thấy không thể áp dụng một mô hình tự chủ tài chính chung cho các bệnh viện và CSYT mà cần có những cơ chế tài chính mềm dẻo và phù hợp hơn với từng nhóm bệnh viện. Như vậy, nhu cầu cần đổi mới toàn diện cơ chế tài chính y tế là vấn đề rất cấp thiết đối với ngành y tế.

3. Các giải pháp

3.1. Tăng chi công cho y tế thông qua tăng chi NSNN cho y tế và tăng độ bao phủ BHYT.

Đến hết năm 2009 tỷ lệ chi công cho y tế đã đạt 45% tổng chi y tế. Phấn đấu tới năm 2012 tỷ lệ này đạt sấp sỉ 50% và tới năm 2015 đạt 55%. Để đạt được chỉ số chi công cho y tế ở mức sấp sỉ 50% Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều, đặc biệt là cần phải có các giải pháp mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị để tăng mức độ bao phủ của BHYT.

3.2. Đổi mới cách phân bổ ngân sách và tăng chi NSNN nhằm tạo thêm nguồn lực cho công tác y tế dự phòng.

Hiện nay việc phân bổ ngân sách cho các đơn vị y tế dự phòng tại địa phương chủ yếu vấn dữa theo cơ chế phân bỏ theo đầu cán bộ công chức và thực hiện khoán theo NĐ43. Tuy nghiên cách phân bổ này đã tỏ ra lỗi thời và không phù hợp với NQ18 của Quốc hội. Vì vậy việc đổi mới cơ chế phân bổ NSNN cho khối y tế dự phòng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Tăng chi cho công tác y tế dự phòng theo NQ18 của Quốc hội.

- Việc lập dự toán NSNN của các đơn vị y tế dự phòng cần phải dựa trên nhiệm vụ và các hoạt động chuyên môn làm cơ sở, tức là một mặt phải đảm bảo toàn bộ kinh phí chi cho con người và hoạt động của cơ quan, đồng thời phải thoả mãn các hoạt động chuyên môn y tế dự phòng.

- Từng bước chuyển đổi từ hình thức “khoán kinh phí” theo NQ43 sang “khoán việc” hay nói một cách khác là phân bổ ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra.

3.3. Đối với các bệnh viện cần phải thực hiện mạnh hơn việc chuyển đổi sự hỗ trợ NSNN từ cơ sở cung ứng dịch vụ sang hỗ trợ cho người sử dụng dịch vụ thông qua quỹ BHYT và quỹ hỗ trợ KCB đối với những người khó khăn đột xuất khi khám chữa bệnh với chi phí cao mà người bệnh không có khả năng chi trả[2]. Như vậy các bệnh viện phải tính đủ giá dịch vụ và thu đủ nhằm phục hồi chi phí đồng thời nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Người bệnh sẽ được quỹ BHYT trả thay hoặc tự trả từ tiền túi hoặc được nhà nước hỗ trợ một phần thông qua quỹ hỗ trợ khám chữa bệnh. Tuy nhiên để đảm bảo cho tất các các bệnh viện hoạt động bình thường và khuyến khích người bệnh sử dụng dịch vụ KCB ở tuyến dưới, NSNN sẽ hỗ trợ cho các bệnh viện tuyến huyện, các bệnh viện ở vùng núi, các bệnh viện phổi, tâm thần, phong .v.v. Mức độ hỗ trợ sẽ được tính toán phù hợp với khả năng đóng góp của nhân dân và thực hiện chính sách an sinh xã hội, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ.

3.4. Đổi mới cơ chế tài chính y tế phải tác động theo hướng có lợi cho người dân, người bệnh và tác động theo hướng tích cực tới đội ngũ cán bộ y tế.

Vậy bằng cách nào đổi mới cơ chế tài chính y tế tác động tới đội ngũ thầy thuốc, làm cho họ làm việc hiệu quả hơn. Nhìn chung đội ngũ thầy thuốc có mong muốn và yêu cầu rất chính đáng là làm việc trong môi trường có đủ trang thiết bị y tế để phát huy tối đa năng lực chuyên môn và tăng thu nhập. Về cơ sở vật chất, Chính phủ đã có các đề án đầu tư theo QĐ47-TTg, QĐ930-TTg và QĐ950-TTg để đầu tư cho các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện và các trạm y tế xã. Do vậy điều kiện làm việc của cán bộ y tế đã và đang được cải thiện. Về thu nhập, Chính phủ cũng đã từng bước có các quyết định tăng mức phụ cấp thu  hút, phụ cấp ưu đãi ngành .v.v. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Trong đề án đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính y tế, Chính phủ cũng đã đồng ý cho phép kết cấu vào giá dịch vụ KCB một tỷ lệ thoả đáng để tạo nguồn thu nhằm tăng thu nhập cho cán bộ y tế nói chung và khuyến khích các thầy thuốc thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu và như các thầy thuốc công tác tại tuyến huyện, vùng sâu .v.v.

3.5. Tăng cường công tác quản lý nhà nước

Đổi mới luôn có 2 mặt, mặt tích cực và những tác động không mong muốn. Đổi mới cơ chế tài chính y tế diễn ra trong ngành y tế, một ngành cung ứng dịch vụ cho xã hội với tư cách một hàng hoá đặc biệt đòi hỏi vai trò của quản lý nhà nước cao hơn của Chính phủ, các Bộ, cũng như lãnh đạo chính quyền địa phương.

Ở cấp vĩ mô việc ban hành các cơ chế chính sách với các giải pháp phải đồng bộ. Tức là một bên phải tạo cơ chế thông thoáng để các bệnh viện vận hành và chất lượng ngày càng cao trong mối quan hệ tương tác với thị trường. Một bên khác Chính phủ phải dùng NSNN hỗ trợ để người dân có khả năng tiếp cận được với các dịch vụ khám chữa bệnh thông qua quỹ BHYT và quỹ hỗ trợ khám chữa bệnh để bảo đảm rằng không một ai khi có nhu cầu KCB mà không được KCB và khi đã KCB thì không một ai bị rơi vào bẫy nghèo đói do phải chi trả dịch vụ KCB. Ở cấp triển khai thực hiện, cần tổ chức thực hiện nghiêm túc các cơ chế chính sách của Chính phủ. Thực tế cho thấy trong thời gian vừa qua khi thực hiện QĐ 139/2002/QĐ-TTg  của Thủ tướng Chính phủ về KCB cho người nghèo nhiều địa phương đã dành một phần ngân sách để hỗ trợ cho nhiều người bệnh gặp khó khăn đột xuất khi mắc bệnh nặng với chi phí điều trị cao; nhưng cũng còn những địa phương chưa thực hiện và như vậy cấp thực hiện đã chưa chuyển tải đầy đủ chính sách của Nhà nước tới người dân.

Bên cạch đó các đơn vị địa phương cũng cần phải tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm trong việc mua sắm hàng hoá, thuốc men, thiết bị y tế nhằm phát huy tối đa nguồn lực giành cho y tế.

 

[1] Tạp chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam, số tháng 4 2011

[2] QĐ 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

 

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung