Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
CASEMIX – Một phương thức thu phí hiệu quả  (06/05/2011)
Casemix cũng đồng thời là một phương tiện nhằm đạt được những cấp bậc cao hơn về niềm tin và một hệ thống phân loại tương đối cho phép những so sánh giữa các đầu ra sảm phẩm tại các nhóm bệnh cần chăm sóc khác nhau sau khi đưa vào quản trị bệnh viện hoặc sau phẫu thuật.

CASEMIX – Một phương thức thu phí hiệu quả

 

            Hiện nay rất nhiều nước trên thế giới đã áp dụng phương thức chi trả bệnh viện dựa vào hệ thống casemix. Theo luật Bảo hiểm Y tế, các bệnh viện ở Việt Nam cũng sẽ thu phí theo trường hợp bệnh (casemix). Hội Khoa học kinh tế y tế Việt Nam xin trân trọng giới thiệu một số nội dung liên quan đến casemix và DRG được lược dịch từ tài liệu của Bộ Y tế Singapore để các bạn tham khảo.

 

Casemix là gì?

Casemix là một thuật ngữ để chỉ những trường hợp bệnh trong một hệ thống các loại bệnh cần được chăm sóc. Đó là một hệ thống phân loại các loại bệnh vào các nhóm bệnh tương tự nhau. Kể từ những năm 1970, người ta đã nỗ lực theo dõi những ca bệnh ra vào tại các bệnh viện. Điều này có liên quan tới khái niệm về tài chính bệnh viện đối với sản phẩm của bệnh viện, và điều này có nghĩa, ngân quỹ chính là những gì mà bệnh viện đã đạt được. Nếu chẩn đoán cuối cùng trong bệnh án ra viện chính là sản phẩm của quá trình điều trị sau khi được đưa vào quản trị bệnh viện, thì rõ ràng đã có rất nhiều bước trung gian trong suốt 1 quá trình trước đó. Người ta có thể nghĩ rằng, sản phẩm chính là kết quả của 2 giai đoạn mà đầu vào chính là lao động, thuốc, dịch truyền và trang thiết bị được chuyển thành những sản phẩm trung gian như quá trình chữa bệnh, thuốc men và các xét nghiệm v.v…. Những sản phẩm dịch vụ cuối cùng được công nhận ví dụ như thủ thuật cắt bỏ túi mật hay can thiệp đẻ…. những sản phẩm dịch vụ này được phân loại vào các nhóm bệnh cần chăm sóc. Casemix vì vậy có thể được coi là một công cụ thông tin trực tiếp để nắm được và điều khiển các “sản phẩm” trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Casemix cũng đồng thời là một phương tiện nhằm đạt được những cấp bậc cao hơn về niềm tin và một hệ thống phân loại tương đối cho phép những so sánh giữa các đầu ra sảm phẩm tại các nhóm bệnh cần chăm sóc khác nhau sau khi đưa vào quản trị bệnh viện hoặc sau phẫu thuật.

 

Một vài nét về hệ thống phân loại bệnh casemix:

Hệ thống phân loại bệnh casemix khác so với hệ thống phân loại y tế truyền thống bởi 3 điểm đặc trưng sau:

  1. Đồng nhất về nguồn lực: Mọi nỗ lực đều nhằm vào việc đảm bảo rằng các nhóm trong cùng một loại bệnh đều phải đồng nhất xét về nguồn lực đã được sử dụng trong quá trình điều trị bệnh nhân.
  2. Ý nghĩa bệnh lý phù hợp: Các loại bệnh được phân loại phải có ý nghĩa về mặt bệnh lý phù hợp.
  3. Con số tối ưu với các loại: Nếu có quá nhiều nhóm bệnh, thì một vài nhóm sẽ ít được quan sát kỹ lưỡng để đưa ra được kết luận chính xác. Mặt khác, cũng không nên có quá ít các nhóm bệnh. Nếu có quá nhiều trường hợp bệnh được đưa vào cùng 1 nhóm, sự khác biệt về bệnh án sẽ khó xử lý và ý nghĩa về mặt bệnh lý cũng sẽ bị mất đi.

 

Lịch sử của casemix và DRGs (Nhóm các trường hợp bệnh và Nhóm các bệnh chẩn đoán liên quan)

Thuật ngữ casemix cũng không còn quá mới mẻ. Hệ thống phân loại bệnh Casemix và Nhóm các loại bệnh liên quan DRGs lần đầu được sử dụng rộng rãi và phát triển từ năm 1974 bởi Robert Fetter và các cộng sự tại trường Đại học Yale với những nhóm bệnh nội trú. Ý tưởng ban đầu là sử dụng DGRs làm công cụ để tổng quan và đảm bảo chất lượng các hoạt động. Hệ thống casemix lần đầu được sử dụng rộng rãi trên khắp đất nước với mục đích quản lý ngân quỹ bệnh nhân là hệ thống DGRs y tế từ năm 1983. Hệ thống y tế này được ứng dụng như một hệ thống quản lý chi trả cho bệnh viện, nhằm quản lý những người già và người tàn tật theo một hệ thống bảo hiểm y tế. Kể từ đó, hệ thống DRG Y tế đã chắt lọc và xem xét lại gần như mỗi năm nhằm đảm bảo hệ hống phân loại casemix là hợp lý và cập nhật. Một vài hệ thống casemix phổ biến khác là All-Patient DRGs (AP-DRGs), Patient Management Categories (PMC), Disease Staging, Health Resource Groups (HRGs), Resource Utilisation Groups (RUGs) và Ambulatory Visit Groups (AVGs). Những hệ thống này đều được sử dụng rộng rãi đối với hệ thống tài chính tại các bệnh viện và phân bổ nguồn tại Mỹ, châu Âu, Úc và Niu Zealand. Nhiều quốc gia khác cũng đang xem xét nhằm sử dụng hệ thống casemix một cách rộng rãi.

 

DRGs là gì? (DRGs – Diagnosis Related Groups)

Nhóm các loại bệnh liên quan (DGRs) là một nhóm phân loại trong hệ thống phân loại casemix. Hệ thống DGRs nhóm tất cả các loại bệnh vào các Danh mục chẩn đoán bệnh lớn (MDCs). Mỗi MDC bao gồm khoảng 4 đến 53 nhóm nhỏ, điều đó có nghĩa, DGRs dựa trên các nguồn đồng nhất và có ý nghĩa bệnh lý. Mỗi DRG vì vậy sẽ miêu tả một nhóm nhỏ các bệnh được chẩn đoán liên quan yêu cầu các cách điều trị và chi phí tương tự nhau.

 

DRGs làm việc như thế nào?

Bước đầu tiên trong việc phân loại một nhóm bệnh vào một DRG là dựa vào bệnh chẩn đoán cơ bản để quy vào một MDC. Bệnh chẩn đoán chính (Principal Diagnosis (PD)) là bệnh cơ bản nhất cho nhóm giúp bệnh viện quản lý điều trị bệnh nhân. Đây là một trong những “biến số” quan trọng nhất trong việc xác định các nhóm DRG.

Bước tiếp theo là xem xét toàn bộ các biểu hiện cần phẫu thuật quan trọng nhằm phục vụ cho vấn đề quản trị bệnh nhân. Những biểu hiện này cũng có thể là những bước/quá trình chữa bệnh. Các quá trình chữa bệnh không qua phẫu thuật như xét nghiệm máu hay các xét nghiệm khác không nằm trong những bước/quá trình này. Việc mã hóa chính xác các biểu hiện chính là điều rất quan trọng vì liên quan trực tiếp tới bệnh chẩn đoán cơ bản. Nếu không có biểu hiện quan trọng, bệnh nhân sẽ buộc phải chuyển qua “Medical Partition” của MDC, chứ không thuộc các bệnh cần phẫu thuật. DGRs sẽ giúp việc sử dụng các phần mềm thương mại sẵn có dễ sử dụng hơn. Các thuật toán của phần mềm nhóm mã sẽ giúp DRG dễ dàng hơn.

 

Casemix – Hệ thống tài chính dễ dàng hơn

Các bệnh viện được hỗ trợ tài chính một phần bởi Nhà nước trước nay vẫn quen tính viện phí bằng cách tính theo số ngày bệnh nhân ở trong viện và theo các dịch vụ đã phục vụ bệnh nhân. Bệnh nhân điều trị nội trú càng lâu, sử dụng càng nhiều thuốc và xét nghiệm, bệnh viện sẽ càng tốn kém hơn. Điều này cũng có nghĩa, bệnh nhân ở viện càng lâu, bệnh viện sẽ càng tốn kém nhiều nguồn lực hơn. Là một phương thức tài chính hiệu quả, casemix sẽ giúp cải thiện hệ thống tài chính bệnh viện dựa trên ngân sách cố định mà không cần quan tâm nhiều tới số ngày bệnh nhân điều trị nội trú.

Hơn thế nữa, cách tính tài chính theo casemix còn giúp chúng ta tiến xa hơn một bước nữa trong việc cải thiện hệ thống phụ cấp. Thay vì dựa vào mỗi số ngày bệnh nhân phải điều trị nội trú, giờ chúng ta có thể phân phối nguồn trợ cấp từ Chính phủ cho các hoạt động cộng đồng của bệnh viện thông qua casemix. Casemix sẽ bao quát gần như toàn bộ các loại bệnh cần điều trị cũng như các chi phí liên quan cần thiết. Và như vậy, bệnh viện có thể điều trị nhiều ca bệnh hơn và càng nhiều ca bệnh phức tạp thì bệnh viện sẽ càng tiết kiệm được nhiều tiền hơn. Chính vì vậy, casemix là một phương thức chi trả hiệu quả hơn các phương thức truyền thống khác nhờ vào việc phân bổ các nguồn một cách hợp lý.

Mặc dù vậy, không phải tất cả các hoạt động của bệnh viện đều dùng được casemix. Ví dụ như, hoạt động đào tạo và nghiên cứu vẫn tiếp tục cần một hệ thống tài chính riêng biệt. Một số trường hợp bệnh đặc thù vẫn cần phải cần cách tính chi phí theo dịch vụ.  

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung