Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Kết quả triển khai hỗ trợ KCB cho người nghèo và các đối tượng chính sách ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2005-2010  (16/03/2011)
Hiện nay, ở nước ta vấn đề công bằng trong chăm sóc sức khoẻ (CSSK) được tập trung vào lĩnh vực khám, chữa bệnh (KCB) cho người nghèo. Chính phủ đã thực hiện công tác hỗ trợ các hoạt động KCB cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội bằng các hình thức khác nhau trong đó chủ yếu là miễn giảm phí trong KCB.

I.                     Đặt vấn đề

Hiện nay, ở nước ta vấn đề công bằng trong chăm sóc sức khoẻ (CSSK) được tập trung vào lĩnh vực khám, chữa bệnh (KCB) cho người nghèo. Chính phủ đã thực hiện công tác hỗ trợ các hoạt động KCB cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội bằng các hình thức khác nhau trong đó chủ yếu là miễn giảm phí trong KCB.

Ngày 15/10/2002, Thủ tưởng Chính phủ đã ban hành Quyết định 139/2002/QĐ-TTg, theo đó các tỉnh được thành lập Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo để huy động các nguồn lực phục vụ công tác KCB cho người nghèo tại các cơ sở y tế, mở rộng diện bao phủ BHYT tới các hộ gia đình nghèo ở Việt Nam, đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa và những cư dân của các xã đặc biệt khó khăn. Tiếp đến, ngày 16/5/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CP về BHYT. Theo đó, người nghèo, người thuộc diện chính sách xã hội, những người sinh sống hay công tác ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa được thanh toán chi phí vận chuyển trong trường hợp phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế, nhưng các trường hợp cấp cứu lại không được hỗ trợ.

Quyết định 139 và Nghị định 63 ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công tác KCB cho người nghèo và đã góp phần giảm bớt cho người nghèo rất nhiều gánh nặng chi phí khi sử dụng các dịch vụ y tế. Tuy nhiên, đối với người nghèo, ngoài các chi phí trực tiếp phải thanh toán khi đi khám chữa bệnh (đã được Nhà nước miễn phí) còn một số chi phí gián tiếp khác tương đối lớn trong tổng chi tiêu cho y tế, điển hình là chi phí đi lại, ăn uống... Những chi phí này, nếu bệnh nhân không có khả năng chi trả thì nó sẽ là một rào cản rất lớn với người nghèo trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế.

Tây Nguyên là một trong những khu vực có tỷ lệ hộ gia đình nghèo và dân tộc thiểu số cao nhất Việt Nam. Các chỉ số sức khoẻ của người dân tại khu vực nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số rất thấp kém so với khu vực đô thị. Gánh nặng bệnh tật đối với những người gặp khó khăn vẫn còn bị ảnh hưởng lớn bởi các bệnh nhiễm trùng thường thấy, tỷ lệ mắc và chết cao liên quan đến sức khỏe trẻ em. Nhằm giảm bớt gánh nặng trong khám chữa bệnh và tăng cường khả năng tiếp cận và hưởng các dịch vụ y tế có chất lượng cho người nghèo và dân tộc thiểu số Tây Nguyên, Đại sứ quán Thuỵ Điển đã cung cấp khoản viện trợ không hoàn lại khoảng 47.500.000 SEK (tương đương 5.579.000 USD) để Bộ Y tế thực hiện Dự án thí điểm hỗ trợ cho người nghèo và DTTS khu vực Tây Nguyên trong KCB.

II.  Thí điểm thực hiện mô hình hỗ trợ người nghèo và Dân tộc thiểu số trong khám chữa bệnh tại khu vực Tây Nguyên.

1. Mục tiêu và các nội dung hỗ trợ.

Để giảm bất công bằng và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, đặc biệt là người nghèo và DTTS khu vực Tây Nguyên, Dự án đã xây dựng mục tiêu của mô hình hỗ trợ là:

1. Hỗ trợ chi trả chi phí khám chữa bệnh cho người nghèo, đặc biệt là người dân tộc thiểu số nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và được hưởng các dịch vụ y tế có chất lượng.

2. Giảm gánh nặng chi phí trong khám chữa bệnh đối với các hộ gia đình nghèo.

3. Góp phần thực hiện chiến lược tăng trưởng toàn diện và xoá đói giảm nghèo tại khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.

Từ những mục tiêu trên, Ban Quản lý Dự án đã xây dựng các quy định hướng dẫn thực hiện hỗ trợ cho bệnh nhân nghèo, dân tộc thiếu số khi điều trị tại các cơ sở y tế tuyến huyện và tỉnh:

         Hỗ trợ bữa ăn khi đi điều trị nội trú.

         Hỗ trợ chi phí đi lại khi đi điều trị nội trú.

         Hỗ trợ chi phí điều trị trực tiếp/chi phí điều trị không được BHYT thanh toán.

         Hỗ trợ các đợt khám chữa bệnh tại cộng đồng.

2. Kết quả thực hiện các nội dung hỗ trợ của Dự án.

Qua hơn 4 năm triển khai thực hiện, tính đến hết tháng 12/2009 đã có tổng cộng 1.384.723 lượt người nhận hỗ trợ từ dự án với tổng kinh phí hỗ trợ khoảng 79,7 tỷ đồng.

a. Hỗ trợ bữa ăn.

Đây hoạt động được triển khai tương đối đồng đều tại 5 tỉnh Tây Nguyên và ở tất cả các cơ sở y tế tuyến huyện, tuyến tỉnh. Nội dung hỗ trợ này được đánh giá là rất thiết thực đối với bệnh nhân điều trị nội trú, góp phần hỗ trợ tích cực cho công tác điều trị và giảm gánh nặng chi phí điều trị nội trú của người nghèo, DTTS.

Phần lớn các cơ sở khám chữa bệnh đã tổ chức cấp phát, hỗ trợ tiền ăn hàng ngày cho bệnh nhân điều trị nội trú. Một số ít bệnh viện tổ chức được bếp ăn cho bệnh nhân như: Tỉnh Lâm Đồng có 8/15 bệnh viện tổ chức được bếp ăn cho bệnh nhân (chiếm 58% kinh phí hỗ trợ tiền ăn), tỉnh Kon Tum cũng tổ chức được một số bếp ăn cho bệnh nhân (chiếm 25% kinh phí hỗ trợ tiền ăn).

Tính đến hết tháng 12 năm 2009 đã có 526.274 lượt bệnh nhân được Dự án hỗ trợ tiền ăn với tổng kinh phí gần 32,6  tỷ đồng, chiếm khoảng 41% tổng kinh phí chi hỗ trợ các nội dung. Qua đó có thể thấy rằng đây là một nội dung hỗ trợ rất cần thiết và thực tế tỷ lệ giải ngân của hoạt động này chiếm gần một nửa so với tổng kinh phí hỗ trợ của tiểu thành phần C2.

Bảng 2: Bảng tổng hợp kinh phí sử dụng từ đầu Dự án đến hết tháng 12/2009                                                                                                                            

Đơn vị tính: đồng

Nội dung

hỗ trợ

Tháng 10-12/ 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Tổng cộng

Ăn

Số BN

5,238

68,348

114,704

153,756

184,228

526,274

Số tiền

141,640,000

2,339,502,961

5,945,943,486

8,912,640,500

14,913,955,4

32,253,682,373

Đi lại

Số BN

270

2,910

65,640

108,854

136,833

314,507

Số tiền

10,343,010

178,290,207

2,162,524,943

4,696,541,607

10,401,978,5

17,449,678,349

Kĩ thuật cao

Số BN

4

214

370

2,309

3,436

6,333

Số tiền

11,883,533

211,283,167

334,913,094

1,953,440,697

2,780,748,44

5,292,268,940

KCBCĐ

Số BN

1,050

65,387

122,988

137,365

213,891

540,681

Số tiền

154,796,839

1,833,899,468

5,319,117,050

5,388,986,928

6,832,504,30

19,529,304,588

VPP

Số tiền

0

92,054,783

288,223,471

354,074,084

511,085,551

1,245,437,889

CB kiêm nhiệm

Số tiền

0

0

0

292,500,000

892,900,000

1,185,400,000

Tổng cộng

Số BN

6,562

136,859

303,702

402,284

538,388

1,387,795

Số tiền

318,663,382

4,655,030,586

14,050,722,0

21,598,183,81

36,333,172,3

76,955,772,139

Nhìn nhận một cách khách quan, bệnh nhân khi điều trị nội trú đều phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ dành cho các bữa ăn, bất kể là bệnh gì hoặc chế độ ăn nào. Dự án đã hỗ trợ khoản chi phi này cho các đối tượng thuộc diện nghèo, DTTS. Khi phải nhập viện điều trị nội trú họ không những đã mất đi khoản thu nhập thường xuyên mà còn phải chi cho bữa ăn theo giá ở khu vực đô thị trong thời gian nằm viện nên khoản hỗ trợ này đã giảm đi phần nào gánh nặng cho chi phí về y tế.

Hầu hết người dân đều thấy hài lòng với nội dung hỗ trợ này. Tỉ lệ bệnh nhân đánh giá mức độ hỗ trợ bữa ăn của Dự án đủ so với chi phí thực tế họ phải chi trả tương đối cao: 81% tại BV huyện và 83,7% tại BV tuyến tỉnh[1].

Bên cạnh nguồn kinh phí hỗ trợ từ Dự án, một số bệnh viện đã huy động được thêm các nguồn hỗ trợ khác ví dụ: Bệnh viện tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông. Như vậy, các nội dung hỗ trợ có thể được duy trì sau khi Dự án kết thúc.

b. Hỗ trợ chi phí đi lại.

Thời gian đầu chỉ có những trường hợp bệnh nhân cấp cứu nhập viện và bệnh nhân tử vong về nhà, trong khi đó số đối tượng này lại chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số BN điều trị nội trú. Sau khi quyết định 139/QĐ-BYT được ban hành ngày 16/1/2007 thì toàn bộ đối tượng là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số khi điều trị nội trú đều được hỗ trợ tiền đi lại. Việc mở rộng đối tượng được nhận hỗ trợ tiền đi lại cho toàn bộ bệnh nhân đi khám chữa bệnh nội trú là một nội dung mà các nhà tài trợ rất quan tâm vì nội dung hỗ trợ này giúp tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.

Dự án đã hỗ trợ cho 314.507 lượt bệnh nhân về đi lại vận chuyển với tổng kinh phí khoảng 18,8 tỷ đồng, chiếm 23,6% tổng kinh phí hỗ trợ các nội dung.

Các tỉnh Tây Nguyên đều cho rằng đây là một nhu cầu rất cần thiết của người bệnh khi đi điều trị nội trú vì: Thông thường khi phải nằm điều trị nội trú tại các cơ sở y tế, một bệnh nhân phải có ít nhất 1 người nhà đi cùng để chăm sóc. Do vậy khoản hỗ trợ này của Dự án đã góp phần làm giảm một phần gánh nặng chi phí cho việc đi lại. Mức độ hỗ trợ đi lại được 84,4% BN tại BV huyện và 56,6% BN tại BV tuyến tỉnh đánh giá đủ so với chi phí thực tế mà họ phải chi trả[2].

 Hai rào cản lớn nhất đối với người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên khi phải điều trị nội trú đó là họ phải bỏ tiền túi ra chi cho ăn uống và đi lại - chiếm tới 26,6% tổng chi phí khi khám chữa bệnh[3]. Nay Dự án đã hỗ trợ được một phần các chi phí này, làm tăng cơ hội cho họ có thể đi khám chữa bệnh khi có nhu cầu.

Tuy nhiên, đối với các cơ sở y tế, đây lại là một khó khăn do số lượng người bệnh vào viện tăng lên trong khi điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực của các cơ sở này còn thiếu, việc bố trí, sắp xếp nhân lực cho các hoạt động hỗ trợ của Dự án rất khó khăn. Đồng thời, các khoản chi thường xuyên khác của BV tăng lên do tác động của Dự án.

c. Hỗ trợ chi phí điều trị trực tiếp.

Theo báo cáo của các tỉnh, đây là hoạt động được thực hiện rất ít. Lí do chính qua thảo luận với các cán bộ thực hiện tại tuyến tỉnh và huyện là[4]:

·        Các đối tượng chưa hiểu rõ về những dịch vụ nào sẽ được Dự án hỗ trợ;

·        Phần lớn các chi phí đã được quỹ KCB cho người nghèo hoặc BHYT thanh toán;

·        Các dịch vụ kĩ thuật cao tại các tỉnh Tây Nguyên chưa sẵn có;

·        Bệnh nhân là người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số chưa biết được sự hỗ trợ này của Dự án do đó không dám sử dụng các dịch vụ y tế kỹ thuật cao và khi ra viện cũng không tiến hành các thủ tục đề nghị được thanh toán các loại chi phí này.

Đến hết tháng 12 năm 2009, nội dung này hỗ trợ cho khoảng 6.333 lượt bệnh nhân với tổng kinh phí khoảng 5,29 tỷ đồng, chiếm  6,6 % tổng ngân sách đã hỗ trợ. Các trường hợp đã được hỗ trợ của nội dung này chủ yếu là các bệnh nhân mắc các bệnh về thận, cần phải chạy thận nhân tạo, mổ tim...

d. Hỗ trợ chi phí KCB tại cộng đồng.

Tiến độ thực hiện hoạt động này thời gian đầu còn chậm do còn mới và các tỉnh còn nhiều bỡ ngỡ trong quá trình thực hiện. Hiện nay, hoạt động này đã được triển khai ở cả 5 tỉnh Tây Nguyên và được triển khai mạnh trong năm 2008. Thông qua các đợt khám chữa bệnh cộng đồng tại những thôn bản thuộc vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa đã làm tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, điều trị các bệnh thông thường cho người nghèo và đồng bào DTTS.

Qua các đợt khám chữa bệnh tại cộng đồng, những trường hợp mắc các bệnh nặng đã được phát hiện sớm chuyển lên tuyến trên điều trị như: Các bệnh về tim, bệnh tăng huyết áp....). Trong một số đợt KCB cộng đồng  đã sử dụng một số thiết bị kỹ thuật như: Máy siêu âm xách tay, kính hiển vi... giúp cho việc chẩn đoán bệnh. Hơn nữa thông qua các đợt KCB tại cộng đồng y tế các địa phương có thể xác định được mô hình bệnh tật tại địa phương mình.

Đã có 540.681 lượt người được khám bệnh tại cộng đồng với tổng kinh phí khoảng 20,5 tỷ đồng, chiếm 25,6 % kinh phí các nội dung hỗ trợ. 

Trong quá trình thực hiện nội dung hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh tại cộng đồng đã nảy sinh ra một số khó khăn, nếu các khó khăn này được khắc phục thì hiệu quả của hoạt động này sẽ được tăng lên rất nhiều. Do đặc thù của vùng Tây Nguyên chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, những kiến thức cơ bản về y học rất hạn chế nên khi khám bệnh, cấp phát thuốc cần phải hướng dẫn cách sử dụng thuốc an toàn cho họ. Nếu người dân không được hướng dẫn cẩn thận, ngoài việc gây lãng phí thuốc còn có thể gây ra những tai biến do thuốc, gây hại cho sức khoẻ do sử dụng thuốc không đúng cách, sai liều lượng, bảo quản thuốc không đúng cách...

Trong năm 2009, PMU đã đồng ý cho tỉnh Kon Tum thực hiện tăng cường các đợt khám chữa bệnh cộng đồng tại các huyện khó khăn, chịu ảnh hưởng của cơn bão số 9 nhằm khắc phục hậu quả và phòng chống dịch bệnh cho nhân dân.

Mặc dù còn có một số khó khăn và tồn tại nhưng thông qua hoạt động này, người dân có thêm lòng tin vào sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và ngành Y tế, góp phần ổn định chính trị, an ninh để phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên.

3. Đánh giá mức độ hoàn thành so với mục tiêu đề ra

Đây là Dự án đầu tiên triển khai thí điểm mô hình hỗ trợ cho người nghèo và DTTS trong khám chữa bệnh nên trong quá trình triển khai thực hiện gặp rất nhiều khó khăn và vừa phải thực hiện vừa phải điều chỉnh các nội dung hỗ trợ cho phù hợp với tình hình thực tế tại Tây Nguyên. Các khó khăn cụ thể là:

(i) Trong quá trình triển khai thực hiện các nội dung hỗ trợ, Dự án đã phải điều chỉnh định mức chi, cũng như bổ sung các nội dung hỗ trợ nhiều lần. Trong quá trình điều chỉnh, hầu hết các tỉnh đều thực hiện chậm lại để chờ quyết định mới.

 (ii) Tây Nguyên là vùng đầu tiên tại Việt Nam thực hiện thí điểm các nội dung hỗ trợ này cho người nghèo và đồng bào DTTS, đây là những nội dung hỗ trợ rất mới nên các đơn vị phải vừa triển khai vừa rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện;

(iii) Nguồn nhân lực ở tuyến huyện và tuyến tỉnh còn thiếu;

(iv) Khu vực Tây Nguyên là nơi sinh sống của rất nhiều đồng bào DTTS, khu vực này còn phải chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố văn hóa và phong tục tập quán lạc hậu;

(v) Thông tin về các nội dung hỗ trợ của Dự án chưa được phổ biến rộng rãi đến người dân do địa bàn trải rộng, nhiều dân tộc và nhiều ngôn ngữ chủ yếu của họ là tiếng dân tộc;

(vi) Chậm trễ kiểm soát chi tại các kho bạc địa phương.

 Tuy nhiên, tính đến khi dự án kết thúc chương trình, tỷ lệ giải ngân ước sẽ đạt được khoảng gần 100% kế hoạch đề ra. Đây là một kết quả rất ấn tượng khi triển khai thực hiện các nội dung rất mới. Kết quả cho thấy việc thực hiện các nội dung hỗ trợ cũng đã có những thành công nhất định, cụ thể:

- Tính đến khi dự án kết thúc đã có khoảng 1,38 triệu lượt người được nhận sự hỗ trợ của dự án. Trong đó 2 nội dung hỗ trợ được đánh giá rất thiết thực: Hỗ trợ chi phí bữa ăn và hỗ trợ chi phí đi lại.

- 100% bệnh nhân là người DTTS đến khám, chữa bệnh tại bệnh viện huyện đều nhận được hỗ trợ của Dự án. Tỉ lệ này ở các bệnh viện tuyến tỉnh là trên 95%[5]. 

- Các tỉnh tham gia Dự án đều đánh giá các nội dung hỗ trợ  là hết sức thiết thực đối với nhân dân Tây Nguyên đặc biệt đối với người nghèo và dân tộc thiểu số.

- Các nội dung hỗ trợ của Dự án đã giúp người nghèo giảm bớt các rào cản, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế khi ốm đau.

Kết quả thực hiện mục tiêu ban đầu:

* Tăng khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ Y tế

Kết quả nghiên cứu Đánh giá của Viện Chiến lược Chính sách y tế đã chỉ ra rằng người nghèo tại 5 tỉnh của dự án có khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế tốt hơn nhiều so khi so sánh sánh với kết quả điều tra tương tự trước đó. Phần lớn hộ gia đình có người đến KCB tại bệnh viện thuộc diện có BHYTNN, cụ thể trong tổng số 383 hộ gia đình có người ốm đi khám chữa bệnh tại bệnh viện thì có 86% hộ gia đình thuộc diện BHYTNN[6].

Kết quả của nghiên cứu cho thấy:

- Tỉ lệ hộ gia đình nghèo sử dụng dịch vụ y tế nội trú (6,1 lượt/năm/100 người dân) cao hơn so với nhóm hộ gia đình không nghèo và kết quả điều tra năm 2006.

- Tỉ lệ hộ gia đình nghèo sử dụng dịch vụ y tế ngoại trú tương đương với hộ gia đình không nghèo.

* Giảm chậm trễ trong việc tìm kiếm các dịch vụ Y tế

Kết quả khảo sát cách xử trí của người dân 5 tỉnh Tây Nguyên khi bị ốm cấp tính cho thấy đa số người dân đi khám bệnh ki bị ốm (79%). Số người ốm không đi khám chữa bệnh chỉ chiếm 3% và tự chữa bệnh là 18%. Khi so sánh với kết quả điều tra Y tế Quốc gia 2002 và báo cáo nghiên cứu của Dự án Hema năm 2006 cho thấy tỉ lệ người dân đi khám chữa bệnh khi bị ốm đã tăng lên rõ rệt, tỉ lệ tự điều trị giảm đi.

* Giảm gánh nặng chi phí khi đi khám chữa bệnh:

Các nội dung hỗ trợ của Dự án có ý nghĩa rất thiết thực đối với người nghèo và dân tộc thiểu số do đã giúp giảm gánh nặng tài chính về các chi phí khám chữa bệnh gián tiếp (tiền ăn, đi lại) và chi phí khám chữa bệnh trực tiếp (điều trị kĩ thuật cao/ngoài danh mục chi trả của BHYT; khám chữa bệnh tại cộng đồng). Kết quả nghiên cứu cho thấy 83% bệnh nhân khi ra viện được phỏng vấn cho biết họ không phải chi trả bất cứ khoản tiền nào khi khám chữa bệnh nội trú, trong đó có 82,2% người thuộc diện có Bảo hiểm Y tế người nghèo. Tại các bệnh viện tuyến huyện, hầu hết bệnh nhân có thẻ BHYTNN đều không phải chi trả cho KCB nội trú, trung bình 98,3%. Tại bệnh viện tuyến tỉnh, tỉ lệ này là 91,4%[7].

III. Kết luận và đề xuất.

Các nội dung hỗ trợ của dự án cho người nghèo và DTTS đã mang lại những lợi ích thiết thực cho đối tượng thụ hưởng, làm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đồng thời làm giảm gánh nặng tài chính cho các đối tượng này.

Trong các nội dung hỗ trợ của dự án, hoạt động hỗ trợ về chi phí đi lại và hỗ trợ ăn uống được đánh giá là phù hợp và thiết thực với nhóm đối tượng thụ hưởng. Hai nội dung này cần tiếp tục được duy trì và mở rộng. Tuy nhiên, cần có sự điều chỉnh phù hợp theo điều kiện kinh tế - xã hội cho từng giai đoạn cụ thể.

Bên cạnh đó, các nội dung hỗ trợ của dự án cũng góp phần thu hút người bệnh đến với cơ sở y tế. Tuy nhiên, các hoạt động hỗ trợ này đã làm tăng thêm gánh nặng công việc cho các bệnh viện.

Với điều kiện kinh tế của vùng Tây Nguyên, rất khó khăn để các tỉnh tìm nguồn kinh phí để tiếp tục duy trì các nội dung hỗ trợ cho người nghèo và DTTS Tây Nguyên. Đề nghị Bộ Y tế và UBND các tỉnh Tây Nguyên có kế hoạch tiếp tục hỗ trợ cho người nghèo và DTTS Tây Nguyên.

Đối với các dự án có các nội dung hỗ trợ tương tự, cần xem xét đến các thủ tục giải ngân, thanh quyết toán theo hướng đơn giản hoá, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị, giảm bớt gánh nặng công việc cho các đơn vị chịu trách nhiệm triển khai thực hiện.

 



[1]  Trang 37 Báo cáo Đánh giá tác động các nội dung hỗ trợ.

[2] Trang 37 Báo cáo Đánh giá tác động các nội dung hỗ trợ của Dự án.

[3] Theo kết quả điều tra Y tế Quốc gia 2002

[4] Lê Thị Thanh Xuân - Báo cáo tiến độ Dự án Y tế Tây Nguyên -  tháng 9 năm 2007 (trang 32)

[5] Trang 34 Báo cáo Đánh giá tác động các nội dung hỗ trợ cho người nghèo.

[6] Trang 44 Báo cáo trên

[7] Trang 30 Báo cáo trên

 

 

Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung