Thứ 4, 20/10/2008
Skip Navigation Links
TIN TỨC HOẠT ĐỘNG
Chi phí và chất lượng khám chữa bệnh xu hướng và giải pháp  (11/08/2010)
CHI PHÍ VÀ CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH
XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
                                  
 
 
                Cải thiện chất lượng dịch vụ y tế nói chung và chất lượng khám chữa bệnh nói riêng được các nước phát triển, đang phát triển và các nước kém phát triển coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều khó khăn, vấn đề trên càng bức xúc.
                Vậy chất lượng và chất lượng dịch vụ y tế là gì, và làm thế nào để nâng cao chất lượng. Chất lượng là một khái niệm đa diện. Trước hết, chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ liên quan đến sự trông đợi của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ và những gì mà họ sẵn sàng và có thể thanh toán cho một mức độ chất lượng nào đó. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Thứ hai, chất lượng của một số sản phẩm được chính phủ quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo sức khoẻ và sự an toàn của người tiêu dùng, của người lao động sản xuất và bán những sản phẩm đó cũng như của xã hội nói chung. Chẳng hạn thực phẩm và đồ uống, đồ điện tử, các thùng chứa điều áp và các dịch vụ y tế nằm trong số những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tối thiểu được chính phủ quy định. Thứ ba, việc nâng cao chất lượng mà vẫn duy trì giá của sản phẩm ở mức đối tượng khách hàng mục tiêu vẫn có thể và sẵn sàng trả cho sản phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến khả năng nâng cao chất lượng cạnh tranh của các cơ sở cung ứng sản phẩm, dịch vụ.        
                Tổ chức Quốc tế về Tiệu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa: chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán. Như vậy chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là khả năng của các dịch vụ khám chữa bệnh đáp ứng các nhu cầu của người bệnh và các bên có liên quan. Nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng từ phía người bệnh, từ các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội. Chất lượng của dịch vụ khám chữa bệnh còn liên quan đến khả năngthanh toán của người bệnh cho một mức độ chất lượng nào đó. Ví dụ cắt ruột thừa là yêu cầu cơ bản để điều trị bệnh viêm ruột thừa, thì cắt ruột thừa bằng phương pháp mổ mở truyền thống có chi phí thấp là phương pháp điều trị có chất lượng cho những người bệnh chỉ có khả năng tiếp cận, chi trả cho phương pháp này. Còn cắt ruột thừa bằng phương pháp mổ nội soi, dù rằng vết sẹo nhỏ hơn, ít đau đớn hơn nhưng có chi phí cao hơn, người bệnh không có khả năng chi trả, không thể tiếp cận, không tạo ra một kết quả gì và như vậy không tạo ra một  chất lượng nào cho họ. Ngược lại phương pháp này lại phương pháp có chất lượng cao hơn phù hợp cho những người bệnh có nhu cầu sẹo mổ nhỏ, ít đau và có khả năng chi trả.
                Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm hai thành phần: chất lượng chuyên môn, kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng chuyên môn, kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh và chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh. Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh và nhu cầu nhất định của nền kinh tế, xã hội được thể hiện ở các mặt như nhu cầu của người bệnh , chính sách kinh tế, xã hội, chính sách giá cả, lực lượng lao động, khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị, vật tư, nguyên nhiên liệu, bảo vệ môi trường.
                Trong những năm gân đây, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở nước ta tăng cao và đa dạng. Ngành y tế đã có nhiều cố gắng để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bằng cách đầu tư con người và thiết bị để phát triển kỹ thuật mới và gia tăng quy mô để đảm bảo phục vụ nhu cầu ngày càng tăng. Tuy vậy, cho một số đối tượng có nhu cầu và khả năng chi trả cao hay ở một số vùng khó khăn như miền núi, hải đảo thì khả năng cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh còn chưa đáp ứng được nhu cầu. Trong bối cảnh đó, mô hình phân phối dịch vụ y tế ở Việt Nam đã có những biến động, một phần người bệnh có nhu cầu cao về dịch vụ khám chữa bệnh bắt đầu chuyển sang chọn lựa các cơ sở dịch vụ y tế tư nhân, nơi cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng chức năng tốt hơn, một số người bệnh có điều kiện sẵn sàng ra nước ngoài để khám và điều trị, những người bệnh ở các vùng miền núi, hải đảo vẫn còn khó khăn để tiếp cận được các dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng. Trước tình hình này, nếu không có những bước can thiệp hiệu quả, không đưa ra được những loại hình dịch vụ khám chữa bệnh trong nước phù hợp cho các cấp độ chất lượng, cho những nhu cầu khác nhau thì tình trạng thiệt hại nguồn lực của các cơ sở y tế công, cũng như nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cho người bệnh ở những vùng miền núi, hải đảo sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn.
                Để cải thiện tình hình trên, ngành Y tế đã có một số báo động về sự hạn chế chất lượng của các dịch vụ khám chữa bệnh. Tuy nhiên, để cải thiện tình trạng này cần phải có sự đầu tư để có con người, cơ sở vật chất và các cơ chế hoạt động thích hợp. Chất lượng khám chữa bệnh bị chi phối, ràng buộc bởi nhu cầu của người bệnh, chính sách kinh tế, xã hội, chính sách giá cả, năng lực của đội ngũ cán bộ, khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị, vật tư, nguyên nhiên liệu, bảo vệ môi trường. Vì vậy để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phải có các giải pháp đồng bộ như đầu tư đào tạo nguồn nhân lực; đầu tư khoa học, công nghệ, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế; xây dựng các chính sách giá cả, chính sách cán bộ ngành y tế.
                Trong phạm vi bài tham luận này chúng tôi xin được trình bày những tác động, liên quan tới chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh từ góc độ các chi phí. Liên quan giữa chi phí và chất lượng khám chữa bệnh không chỉ là quan tâm của các cơ sở y tế, mà còn là quan tâm của người bệnh, của các nhà quản lý. Thứ nhất, về phía các cơ sở y tế, chi phí là thể hiện của sự tích luỹ sức lao động trong dịch vụ, chi phí càng lớn thì giá trị của dịch vụ càng lớn. Nhưng giá trị này chỉ trở thành chất lượng của dịch vụ khi nó đáp ứng được nhu cầu của người bệnh về giá trị sử dụng và giá cả (khả năng chi trả của người bệnh). Như vậy một dịch vụ có chi phí lớn chưa chắc đã là một dịch vụ có chất lượng cao, và dịch vụ có chất lượng cao đối với người bệnh này chưa chắc đã là chất lượng cao với người bệnh khác. Đối với người bệnh, mục tiêu khi đến các cơ sở y tế là khám và chữa bệnh, nên một dịch vụ không thể gọi là có chất lượng khi nó không đáp ứng được nhu cầu khám và chữa bệnh, mặt khác một dịch vụ khám chữa bệnh đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh nhưng người bệnh không thể tiếp cận vì không đủ khả năng chi trả thì cũng không tạo ra cho họ một giá trị sử dụng gì và đối với họ cũng không thể gọi là có chất lượng. Như vậy đối với người bệnh một dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng là đáp ứng được nhu cầu của người bệnh về khám chữa bệnh và khả năng chi trả của họ. Vậy một vấn đề nảy sinh ở đây là dịch vụ khám chữa bệnh là một dịch vụ mà chính phủ có quy định chặt chẽ về cấp độ chất lượng nhằm đảm bảo sức khoẻ và sự an toàn cho người sử dụng và các bên liên quan. Trong khám chữa bệnh, đây là trường hợp  một dịch vụ khám chữa bệnh, có giá trị sử dụng ở mức tối thiểu cơ bản, không có cấp độ thấp hơn (ví dụ như cắt ruột thừa trong bệnh viêm ruột thừa cấp), được người bệnh chấp nhận nhưng họ không có khả năng chi trả thì đây vẫn phải coi là một dịch vụ có chất lượng và Nhà nước cần có cơ chế chi trả cho các cơ sở cung cấp dịch vụ. Đây chính là một phần nội dung nói lên Nhà nước, các nhà quản lý cũng cần quan tâm và có các chính sách giải quyết quan hệ giữa chi phí và chất lượng của các dịch vụ khám chữa bệnh.
                Như vậy, để có các dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng:
                1. Các cơ sở y tế, các nhà quản lý phải nắm bắt và phục vụ đúng nhu cầu của người bệnh. Nhu cầu khám chữa bệnh hiện nay là đa dạng (do yêu cầu khám chữa bệnh và khả năng chi trả của người bệnh), vì vậy các dịch vụ khám chữa bệnh cần có các cấp độ chất lượng khác nhau, trong đó cấp độ chất lượng thấp nhất cũng phải đảm bảo yêu cầu tối thiểu, cơ bản cho mục đích khám chữa bệnh. Các cấp độ khác, cao hơn cũng đạt được yêu cầu cơ bản trên, nhưng thêm các giá trị cứ xin tạm gọi là “xa xỉ”, mà  trong điều kiện của nước ta hiện nay, một số người bệnh không thể tiếp cận như là cấp độ công nghệ cao, các dịch vụ tiện nghi, ….
                2. Các cơ sở y tế, các nhà quản lý khám chữa bệnh trên cơ sở tính đầy đủ mọi chi phí vào giá thành của dịch vụ, cần có các biện pháp tiết kiệm chi với mục tiêu nâng cao chất lượng mà vẫn duy trì giá thành của dịch vụ ở mức đa số người bệnh vẫn có thể và sẵn sàng trả cho dịch vụ và hạ giá thành mà vẫn duy trì chất lượng của dịch vụ để mở rộng khả năng cung cấp dịch cho các đối tượng có khả năng chi trả thấp hơn.
                Để làm tốt các nhiệm vụ này, vai trò của đội ngũ cán bộ, viên chức là quyết định. Vì vậy đi đôi với công tác đào tạo, sử dụng, giám sát, đánh giá đúng thì việc động viên, đãi ngộ, chăm lo tới đời sống cán bộ, viên chức cần được các cấp lãnh đạo tích cực quan tâm.
                3. Người bệnh cần có những đóng góp tích cực bằng cách mở rộng nhu cầu sử dụng cũng như tăng cường khả năng chi trả dịch vụ. Thực tế nhu cầu và khả năng chi trả dịch vụ có tác động qua lại. Nhu cầu và khả năng chi trả dịch vụ tăng sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh.
                4. Nhà nước vẫn đóng vai trò quyết định và lâu dài tới chất lượng các dịch vụ y tế. Trước hết Nhà nước cần đảm bảo khả năng chi trả của người bệnh thông qua chính sách bảo hiểm y tế, hỗ trợ các đối tượng chính sách, đối tượng có khó khăn. Nhà nước cũng cần đầu tư trực tiếp cho các cơ sở y tế trong việc phát triển khoa học, công nghệ, các mũi nhọn chuyên sâu. Nhà nước cũng cần có các chính sách nâng cao trách nhiệm, tự chủ, năng động của các cơ sở y tế. Quan tâm tới tính đặc thù của nghề y, Nhà nước cũng cần có các chính sách tuyển chọn, đào tạo sử dụng và đãi ngộ cán bộ. viên chức y tế phù hợp.     
                Hiện nay giá viện phí không hợp lý, không tính đủ các giá trị tích luỹ (ví dụ như trình độ, kinh nghiệm của các chuyên gia, …), không tính đầy đủ các chi phí đặc thù (giá các công trình, thiết bị y tế, mức độ độc hai, nguy hiểm, …), không tính đủ các chi phí bảo trì, … nên nhiều dịch vụ thu không đủ chi, tổng thu viện phí không đủ ngay cả cho chi phí thường xuyên để vận hành cơ sở khám chữa bệnh. Tuy nhiên, các bệnh viện công hiện nay vẫn hoạt động được là do cơ chế tài chính vẫn còn phần bao cấp, các bệnh viện vẫn được cấp một phần kinh phí hạn chế từ ngân sách Nhà nước. Xu hướng Nhà nước đảm bảo chăm lo sức khoẻ cho nhân dân thông qua Bảo hiểm y tế toàn dân là khoa học. Cơ chế này sẽ động viên tính tự chủ sáng tạo của các cơ sở cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, còn Nhà nước thông qua Bảo hiểm y tế sẽ đảm bảo chi trả cho các dịch vụ ở các cấp độ chất lượng nhất định. Các dịch vụ có cấp độ chất lượng cao hơn sẽ được cung cấp theo thoả thuận giữa cơ sở y tế và người bệnh. Phải nói là có rất nhiều khó khăn, và cũng không thể có một giải pháp tốt nhất, nhưng thực tế hiện nay việc đảm bảo cho các dịch vụ khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế còn nhiều hạn chế. Mệnh giá của thẻ thấp, quy định quản lý thẻ ban đầu, quy định chuyển tuyến, phương thức thanh toán cũng có mặt tích cực nhưng cũng còn nhiều hạn chế cho cả cơ sở y tế và người sử dụng bảo hiểm.
                Để động viên tính tự chủ sáng tạo của các cơ sở cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cần có một qui định khung của Bộ Y tế về quy trình chuyên môn, giá của từng dich vụ, những quy định này nên có một khoảng để các cơ sở y tế, tuỳ theo điều kiện cụ thể, phát huy tính năng động, sáng tạo, tự chủ trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của bệnh viện về chất lượng dịch vụ. Cần có cơ chế để phát huy ưu thế cạnh tranh này cho các bệnh viện ví dụ như quy định người bệnh, cơ quan bảo hiểm có quyền và trách nhiệm đàm phán, ký hợp đồng với các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế trên cơ sở chất lượng và giá dịch vụ, …. Quy định như trên sẽ thúc đẩy các bệnh viện phải có các biện pháp để nâng cao chất lượng như xây dựng các quy trình chuyên môn, giá dịch vụ phù hợp với đặc điểm cụ thể về bệnh tật, nhu cầu, khả năng chi trả của các đối tượng khác nhau, giám sát, đánh giá thường xuyên việc thực hiện các quy trình chuyên môn, … với mục tiêu là nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị mình.
                Phương thức tính chi trả cũng là một biện pháp có tác động đến chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Phải thấy là không có một phương thức chi trả nào là khoa học, hiệu quả cho tất cả các loại dịch vụ khám chữa bệnh, mà mỗi phương thức chi trả sẽ phù hợp với một số dịch vụ nhất định. Mỗi phương thức chi trả đều có ưu thế và hạn chế riêng, chọn phương thức chi trả phù hợp để phát huy và hạn chế các ưu nhược điểm của chúng.
                - Chi trả theo từng dịch vụ, phương thức này có ưu điểm là người bệnh có xu hướng được hưởng nhiều dịch vụ, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Nhược điểm là xu hướng lạm dụng cung cấp dịch vụ không cần thiết, tính chi phí thanh toán mất nhiều công sức. Phương thức chi trả này, với quan điểm đảm bảo chất lượng dịch vụ cho người bệnh, nên áp dụng cho những trường hợp bệnh mà qui trình chuyên môn phức tạp, khó xác định trước.
                - Chi trả theo trọn gói theo trường hợp bệnh, phương thức này có ưu điểm là đơn giản thủ tục thanh toán, khuyến khích giảm chi phí khám chữa bệnh, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực. Nhược điểm là xu hướng “chuyển dịch" mã ca bệnh theo hướng mức độ phức tạp hơn để có mức hoàn trả cao hơn, sàng lọc tăng nhập viện những ca bệnh có mức lợi nhuận cao và tránh né với các trường hợp phải chi phí tốn kém hơn, xuất viện quá sớm và cung cấp không đầy đủ dịch vụ. Phương thức chi trả này, với quan điểm khuyến khích giảm chi phí khám chữa bệnh, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, nên áp dụng cho những trường hợp bệnh mà qui trình chuyên môn cơ bản được xác định trước.
                Trong nhiều năm qua, bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí luôn coi giá dịch vụ cũng là một phần cấu thành chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nên luôn có các biện pháp quản lý chất lượng như xây dựng, giám sát, đánh giá các quy trình chuyên môn, sử dụng hợp lý các xét nghiệm, thuốc, vật tư tiêu hao. Giá một số dịch vụ khám chữa bệnh năm 2009 tại bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí, so sánh với giá tại bệnh viện Thanh Nhàn và bệnh viện Ba Vì:
 
Bệnh việnB
Đẻ thường
 
Xét nghiệm
 
Thuốc
Hàng tiêu hao
 Tổng
QTCM
TB
QTCM
TB
QTCM
TB
Uông Bí
4017
428602
321267
83141
45469.4
108462
82369
449105
(620205)
Thanh Nhàn
188
428602
341818
83141
215982
108462
202332
760132
(620205)
Ba Vì
114
428602
221886
83141
46110
108462
48714
316710
(620205)
Bệnh việnB
Viêm ruột thừa
 
Xét nghiệm
 
Thuốc
Hàng tiêu hao
 
QTCM
TB
QTCM
TB
QTCM
TB
Tổng
Uông Bí
455
413400
508834
702899
547049
799683
82777
1138660
(1915982)
Thanh Nhàn
55
413400
449918
702899
724596
799683
534108
1708622
(1915982)
 
 
 
Bệnh viện
Viêm phổi trẻ em
 
Xét nghiệm
 
Thuốc
Hàng tiêu hao
 
QTCM
TB
QTCM
TB
QTCM
TB
Tổng
Uông Bí
377
100300
432525
232077
309533
44621
96210
838268
(376998)
Thanh Nhàn
60
100300
87240
232077
674697
44621
89752
851689
(376998)
Ba Vì
370
100300
64427
232077
220569
44621
41131
326127
(376998)
Bệnh việnB
Viêm phổi ng­ười lớn
 
Xét nghiệm
 
Thuốc
Hàng tiêu hao
 
QTCM
TB
QTCM
TB
QTCM
TB
Tổng
Uông Bí
517
381400
493701
1028561
1176672
227784
86058
1756431
(1637745)
Thanh Nhàn
10
381400
233420
1028561
1083150
227784
60195
1376765
(1637745)
 
                Thực tế hiện nay tại các bệnh viện công lập, nguồn kinh tài chính thường xuyên chỉ đảm bảo cho chi phí vận hành ở mức tối thiểu, gồm chi cho con người (tái sản xuất sức lao động, đào tạo liên tục, ở mức rất hạn chế), chi nhiên liệu, thuốc, vật tư tiêu hao còn hầu như không có chi cho bảo trì trang thiết bị và cơ sở hạ tầng, rất hạn chế chi cho tái đầu tư phát triển. Tại bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí, năm 2009 cơ cấu thu - chi như sau: Thu: thu từ viện phí chiếm 69%, ngân sách Nhà nước cấp chiếm 31%; Chi: chi cá nhân chiếm 42,8%, chi mua mới thiết bị y tế 4,84%, chi sửa chữa 1,57%, chi nhiên liệu, thuốc, hàng tiêu hao, văn phòng là phần còn lại 45,4%.
                Là một bệnh viện trung ương khu vực Đông Bắc (trung du và miền núi), mức thu viện phí của bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí không bằng mức thu của các bệnh viện tại các thành phố lớn nhưng cũng hơn mức thu tại các bệnh viện tuyến tỉnh miền núi và các tuyến huyện. Nhưng mức thu viện phí tại bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí cũng chỉ đảm bảo được 69% mức chi thường xuyên tối thiểu (tức là không chi cho bảo trì cơ sở hạ tầng, thiết bị, cho đào tạo và cho đầu tư phát triển). Đời sống cán bộ viên chức có cải thiện từ khi thực hiện Nghị đinh 43/CP, nhưng vẫn còn ở mức thấp, không có sức thu hút cán bộ chuyên môn, đặc là cán bộ chuyên môn có trình độ cao về làm việc. Trong thời gian tới, nếu các tập đoàn y tế nước ngoài đầu tư phát triển các dịch vụ y tế tại Việt Nam sẽ càng thu hút đội ngũ nhân viên y tế cao cấp, thu hút người bệnh có khả năng chi trả cao. Kết quả là một nguồn nhân lực, vật lực quan trọng của ngành y tế nước ta sẽ biến thành lợi nhuận của các cơ sở y tế tư nhân nước ngoài. Vì vậy một chính sách giá dịch vụ y tế phù hợp có tác động nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế không chỉ góp phần quan trọng vào việc đảm bảo, nâng cao sức khoẻ cho nhân dân mà còn góp phần xây dựng ngành y tế nước ta phát triển nhanh, bền vững.
                Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng trưởng liên tục trong nhiều năm qua, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng cao và đa dạng. Để đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cần có một hệ thống các tác động trong đó chính sách giá cả các dịch vụ khám chữa bệnh có vai trò then chốt. Để đảm cho hoạt động thường xuyên và tái đầu tư phát triển của các cơ sở cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, giá các dịch vụ phải được tính đúng, tính đủ các chi phí. Mặt khác, để cho mọi người dân đều có thể tiếp cận và thoả mãn các yêu cầu về dịch vụ y tế thì trên cơ sở một dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản, với mức giá mà tự mỗi người bệnh (hoặc thông qua bảo hiểm y tế) có thể chi trả cần có thêm các dịch vụ ở các cấp độ chất lượng cao hơn. Đây cũng chính là hình thức huy động sự đóng góp của nhiều đối tượng hưởng lợi từ các dịch vụ y tế cùng Nhà nước đầu tư xây dựng, phát triển ngành y tế nước ta. Tuy vậy, nguồn tài chính cơ bản cho các hoạt động của hệ thống y tế vẫn là nguồn ngân sách Nhà nước, việc đầu tư chăm sóc sức khoẻ nhân dân qua hệ thống Bảo hiểm y tế toàn dân cùng với các phương thức thanh toán đa dạng như thanh toán trọn gói theo ca bệnh, thanh toán theo từng dịch vụ cụ thể, thanh toán các dịch vụ theo yêu cầu, … sẽ nâng cao trách nhiệm của các bên cùng tham gia trong việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ y tế. Mọi cấu phần tham gia vào chất lượng dịch vụ y tế đều luôn biến động, đều luôn có các mặt tích cực và hạn chế nên vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc định hướng, điều hoà, thúc đẩy chất lượng phát triển và vai trò quản lý tại các cơ sở y tế như quản lý nguồn nhân lực, quản lý tài chính, trang thiết bị, cơ sở hạ tàng và quản lý chuyên môn, nghiệp vụ luôn có vai quan trọng.
 
Gửi bài viết
Ý kiến trao đổi, thảo luận
Họ và Tên
Thư điện tử
 
Tệp đính kèm
Nội dung